Thật l ch chết .

greenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread

Thật l ch chết . Sao m tao ght độc ti , độc đảng thối tha thối nt thế khng biết ? ? ? . Thả mẹ n vi tri bom nguyn tử cho chết mẹ n hết đi cho rồi . Nhỡ c rơi nhằm vo nh ci thằng ny th cũng xin vui lng .

-- bnvsố (bnvsố@saigon.com), September 26, 2004

Answers

Response to Thật là chó chết .

C thể c ngy Bắc kỳ sẻ biết mi bom nguyn tử . Nhưng xin bảo đảm gia đnh bạn bạn sẻ an ton . Cộng sản chắc chắn sẻ chết .

-- USA (USA@usa.com), September 26, 2004.

Response to Thật là chó chết .

chin up people...tomorrow will come

-- Ho Chi Minh Ma Co (MoiRoCSBipBomHoChiMinh@damtac.ngu.net), September 26, 2004.

Response to Thật là chó chết .

Lolz , đy l giọng điệu của những kẻ đặt dn ln hng đầu , nguyện hy sinh cuộc đời để đem ấm no thịnh vượng đến cho nhn dn đấy cc bạn ạ . Hy vo m xem . V miễn ph .

-- NguoiViet (NguoiViet@yahoo.com), September 26, 2004.

Response to Thật là chó chết .

Bọn cộng sn lải cộng sản chỉ c 3 triệu đảng vin trong khi người dn Việt ta c 80 triệu ,nếu chng ta đồng nhất th ngy tn của bọn c n khng xa ,chng đ bằng mọi cch đưa con chu ra ngoại quốc để tm đường thot thn .

Ton dn Việt đồng lng cng nhau quyết giệt trừ lũ cộng n .

-- thich du thu (toollovers@comcast.net), September 26, 2004.


Response to Thật là chó chết .

con cho' ghe~ Cong san~....may` chi cho tao ai tuyen bo' la` mang am no den cho nguoi dan trong nuoc'.....sao may` xao. ghe wa' dzay con cho' ghe~ cong san

may con cho' ghe cong san bip. dan den trong nuoc' quen mom~....cho dan an banh' ve~ may chuc. nam nay cho nen chung' may` sua~ bay. quen tat^.

nha` nha` co' tivi tu lanh. chay. day duong` o VN.......oi chao tao thay^' ro~ thien duong` CNXH roi day ....ban' ve' so di an pho coi chop bong' .......oho.....thien dang` cua HO tac. mang lai. cho dan den roi^` day

day la` thien dang` cua~ thang Vem. cong san~ nguoi Viet ma` no' dang tung he o VN

=================================================================

Chợ Người Trên Thị Trường Việt Nam

Trần Đức Tường

ngày 21/07/2004

Nhân loại đã phải mất bao nhiêu thế kỷ mới chấm dứt được cái nạn con người buôn bán con người ở giữa chợ. Chế độ "nô lệ" đã bắt đầu được bãi bỏ từ hơn 200 năm nay. Nhưng hiện vẫn còn những con người đang phải sống kiếp sống nô lệ và bị buôn bán như những món hàng. Nhân loại không ngừng tiến bộ và không thể chấp nhận một sự suy thoái. Phải mạnh mẽ lên án và xóa bỏ tư tưởng vì lợi ích kinh tế mà cam tâm chà đạp nhân bản, nhân phẩm người dân Việt Nam.

Trong lúc viện trợ quốc tế và đầu tư nước ngoài có chiều giảm sút, nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Việt Nam ngày nay chủ yếu là dựa vào xuất khẩu. Những hàng hóa xuất khẩu, phần lớn là đào bới từ lòng đất như nông phẩm, hay moi móc từ biển khơi như dầu khí, thủy sản, hoặc rút ra từ đặc tính cần cù, khéo léo của người lao động Việt Nam như hàng thủ công nghệ vv... Những sản phẩm này phần lớn không mang tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế nên thu nhập không đáp ứng, đôi khi lỗ lã là đàng khác nữa. Nhận thấy rằng "con người là vốn quý", nên những người cộng sản cầm quyền hiện nay đã tận lực khai thác "món hàng" này trong các dịch vụ xuất khẩu. Thử tìm hiểu những phương thức khai thác thị trường không cần vốn và có nguồn "nguyên liệu" phong phú này, từ chính sách "xuất khẩu lao động", gả bán phụ nữ lấy chồng nước ngoài và cung cấp trẻ em cho thị trường tình dục.

Chế Độ nô lệ trong lịch sử loài người

Trên chiều dài lịch sử nhân loại, từ rất sớm, đã xuất hiện một lớp người mệnh danh là "nô lệ". Lớp người này xuất hiện khi trong xã hội có những người mạnh, kẻ yếu. Mạnh về sức người, sức trí tuệ; mạnh về thế lực tiền tài, quyền bính. Yếu vì thể lực, vì ngu dốt ; yếu vì nghèo đói, vì cô thế.. Khi bản tính chinh phục của con người phát triển thì cũng là lúc xảy ra những cuộc chiến tranh giữa những quần tụ con người, giữa những quốc gia, giữa những dân tộc. Bên thắng trận cướp đoạt của bên thua những "chiến lợi phẩm". Chiến lợi phẩm có thể bao gồm của cải, vàng bạc châu báu, đất đai, mùa màng và cả con người. Con người đã bị coi như chiến lợi phẩm, một thứ phẩm vật có thể sử dụng, có thể đổi chác, mua bán. Từ đó có sự phân chia giai cấp chủ nhân và nô lệ. Cách đây hơn 3000 năm, dân tộc Do Thái đã phải chịu cảnh nô lệ trên đất nước Ai Cập trong một thời gian dài. Đế quốc La Mã có nhiều nô lệ, không những để phục vụ cho chủ trong những việc nặng nhọc, như làm việc đồng áng, chèo thuyền đi biển, mà còn bị chủ sử dụng trong việc mua vui tàn ác như giác đấu. Nô lệ phải ra đấu trường. Dù họ chẳng thù hằn gì nhau, đôi khi còn là bạn tù cùng chung cảnh ngộ, họ cũng phải đấu với nhau cho đến chết.

Với thời gian, nhiều nền văn minh đã mai một. Không còn đế quốc La Mã, không còn đế quốc Ai Cập... Nhưng vẫn còn nô lệ. Thời trung cổ, người ta đã tới Phi Châu bắt nô lệ để phục vụ cho những chủ nhân tại Âu Châu và còn để bán sang Châu Mỹ. Bây giờ con cháu họ đã thành lập ra nước Haiti và trở thành đa số dân chúng của nhiều quốc gia vùng Nam Mỹ. Ở Á Châu, tuy không dùng danh từ nô lệ, nhưng con người cũng từng bị mua bán. Khi đã bị bán thì con người đó thuộc quyền sở hữu của chủ mua. Họ phải làm tất cả những công việc mà người chủ bắt buộc.

Nô lệ bị mất hết phẩm giá con người. Chủ nhân coi họ không hơn súc vật. Họ hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của chủ. Cho sống thì được sống. Bắt chết là phải chết. Đòn vọt, sỉ nhục là chuyện xảy ra thường nhật. Tư tưởng coi nô lệ như súc vật đã trở thành nếp suy nghĩ của bọn chủ nhân. Đã có một thời, bọn giáo gian và quý tộc cho rằng nô lệ không có linh hồn vì không phải con người ! Bọn này cho rằng, giết một tên nô lệ không có tội trước mặt pháp luật và trước mặt Thượng Đế. Nô lệ bị xiềng xích, bị khắc dấu lên da thịt. Nô lệ bỏ trốn là bị tội chết. Người ta tổ chức duổi bắt như săn thú.

Dịch vụ buôn bán nô lệ thường diễn ra tại các "chợ nô lệ". Những chợ này thường họp ngoài trời. Nô lệ gồm đàn ông, đàn bà, trẻ em... bị đưa ra rao bán. Kẻ mua có thể tới xem hàng, nắn bóp bắp thịt, khám xét răng miệng... như người ta đi tậu một con trâu hay con bò. Dĩ nhiên thì phụ nữ được mua vì nhan sắc... Tại các chợ nô lệ, nhân phẩm con người bị bắt làm nô lệ không còn gì cả. Hiện nay du khách tới Istamboul, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ được hướng dẫn đi xem di tích của chợ nô lệ "Sandal Bedesten" trong khu gọi là "Le Grand Bazar". Đây là một ngôi chợ có mái, được xây cất từ năm 1470. Xưa kia đây là một nơi buôn bán nô lệ nhộn nhịp nhất. Ngày nay chỉ còn những cửa tiệm tân thời.

Phải chờ đến hậu bán thế kỷ thứ 18, chính xác là vào năm 1777, chế độ nô lệ mới bắt đầu được bãi bỏ tại tiểu bang Vermont của Hoa Kỳ. Sau đó, thứ tự theo thời gian:

1780 bắt đầu bỏ chế độ nô lệ tại tiểu bang Pennsylvania.

Tại Pháp, Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền năm 1789 đưa ra nguyên tắc con người bình đảng, không có nô lệ ; nhưng thực chất tại các thuộc địa của Pháp, đến năm 1848 mới chính thức bãi bỏ.

1823 : Chí Lợi.

1824 : Trung Mỹ.

1829 : Mễ Tây Cơ.

1831 : Bolivia.

1833 : Anh bắt đầu thử nghiệm và bãi bỏ năm 1838.

1854 : Venezuela.

1863 : Hòa Lan.

1865 : Liên Bang Hoa Kỳ.

1873 : Puerto Rico.

1880 : Cuba.

1888 : Brasil...

Ngày hôm nay, tuy chế độ nô lệ đã chính thức được bãi bỏ trên thế giới, các chợ nô lệ cổ điển không còn nữa; nhưng không phải vì thế mà nạn nô lệ và chợ buôn bán nô lệ đã chấm dứt. Vì thế, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Liên Hiệp Quốc (LHQ), Ủy Hội Nhân Quyền LHQ (UHNQ/LHQ), Cơ Quan UNESCO và nhiều cơ chế quốc tế khác đã có nhiều văn bản về việc ngăn cấm lợi dụng, buôn bán con người như nô lệ. Xin kể vài tài liệu: Công Ước liên quan đến vấn đề nô lệ (UHNQ/LHQ) ký tại Genève ngày 25/09/1926; Nghị định thư tu chính Công Ước liên quan đến vấn đề nô lệ (1953); Công Ước Bổ Túc về vấn đề nô lệ (1956); Công Ước Trừng Phạt những kẻ vi phạm vấn đề nô lệ (1949); Các Công Ước LHQ về vấn đề nô lệ; vv...

Sự tồn tại của nạn buôn bán nô lệ hiện nay là vì lợi nhuận trong việc buôn bán "món hàng" này rất cao. Nó không còn là nghiệp vụ của những tay buôn bán nô lệ, mà ở nhiều nước như Việt Nam, nó đã trở thành một ngành thương mại trong nền kinh tế.

Những Chợ nô lệ tân thời

Ở thời đại ngày hôm nay, chẳng nước nào còn dám tự nhận là mình có nô lệ hay buôn bán nô lệ. "Món hàng" này đã được ngụy trang bằng nhiều mỹ từ hiện đại. Vì thế để nhận rõ "mặt hàng" qua "mẫu mã" giả hiệu, các cơ quan LHQ đã định nghĩa nô lệ là những con người bị:

1) Ép buộc (cưỡng bách) lao động bằng đe dọa thể xác cũng như tinh thần;

2) Thuộc quyền sở hữu và bị khống chế, kiểm soát bởi "chủ nhân" qua cưỡng bức thể xác hay tinh thần hoặc đe dọa;

3) Đối xử một cách phi nhân và sử dụng như một phương tiện hoặc buôn bán như một "món hàng sở hữu"; bị giam giữ hoặc hạn chế các quyền tự do sinh hoạt.

Vì luật pháp quốc tế nghiêm ngặt đối với việc sở hữu nô lệ và các dịch vụ buôn bán nô lệ, hiện không có những vụ đi săn bắt người làm nô lệ. Trong các cuộc chiến, tù binh chiến tranh được bảo vệ bởi những công ước quốc tế. Do đó, việc tuyển lựa nô lệ được thể hiện qua "dụ dỗ", "lừa đảo". Những người rơi vào cái bẫy của bọn buôn người, đa số là những người nghèo khổ, nhẹ dạ, muốn dứt bỏ hoàn cảnh cùng cực của mình và gia đình... Họ sẵn sàng rời bỏ gia đình, rời bỏ làng xóm để đi xa lao động với đồng lương khá hơn. Ai ngờ...

Lao Động Nước Ngoài

Từ những năm dưới thời chiến tranh lạnh, đặc biệt là sau cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975, chính quyền cộng sản Việt Nam (CSVN) đã đưa hàng chục ngàn thanh niên nam nữ sang lao động tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu. Những công nhân này thuộc diện "lao động hợp tác". Sau khi hệ thống các nước XHCN tan rã, đa số anh chị em bị bơ vơ và đã tìm cách xin tỵ nạn chính trị tại các quốc gia này. Qua những cuộc tiếp xúc với họ, ngưòi ta có thể ghi nhận một số chi tiết như sau : Chính quyền Hà Nội đã gửi họ sang lao động để trả nợ quân trang, quân dụng mà các nước này viện trợ cho cộng sản Việt Nam trong cuộc đánh chiếm miền Nam. Các cơ quan, xí nghiệp gửi từng đoàn đi lao động hợp tác. Ví dụ đoàn Bộ Công Nghiệp, đoàn Bưu Điện, vv... Cuộc sống của họ ở những nước này rất cực khổ. Họ sống trong các chung cư dành cho công nhân ngoại quốc. Lương bổng của họ ít hơn lương công nhân bản xứ. Theo họ cho biết sai biệt là để trả nợ quốc gia. Ngoài ra, hàng tháng họ còn phải đóng nhiều khoản tiền như tiền "xây dựng tổ quốc", hoặc tiền bồi hoàn đào tạo nếu họ lấy vợ, lấy chồng để ở lại vv... Chính những công nhân hợp tác này đã than phiền vì họ bị coi như nô lệ. Họ đã tự nhận danh hiệu "lao nô" trong các hồ sơ xin tỵ nạn.

Sau khi tung ra chính sách "đổi mới" và chuyển nền kinh tế XHCN sang hướng thị trường, Hà Nội đã mở cửa giao dịch với các nước trong vùng và trên thế giới. Họ tìm mọi cách để thu về ngoại tệ. Để đạt được mục đích này, họ đẩy mạnh xuất cảng. Trong danh sách các mặt hàng xuất cảng, họ đã có "công nhân lao động nước ngoài". "Xuất khẩu lao động" là chủ trương của đảng và Nhà Nước CSVN. Chính phủ có cả nghị định về việc "xuất khẩu lao động". Đó là nghị định Nghị định 152/1999/NĐ-CP ngày 20-9-1999 của Chính phủ khi đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Họ còn thành lập cả một cơ quan gọi là Cục Quản Lý Lao Động Với Nước Ngoài (CQLLDVNN) trực thuộc Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội (BLĐTB&XH). Khai thác dịch vụ XKLĐ là những công ty, xí nghiệp Nhà Nước (quốc doanh). Vào thời điểm đầu năm 2003, riêng về dịch vụ XKLĐ đi Mã Lai Á, có 46 công ty được phép XKLĐ. Ngoài ra không có công ty nào khác được phép đưa người đi làm việc ở nước ngoài. Theo ông Đào Công Hải, Cục Phó CQLLĐVNN thì 46 công ty đó là:

1. Cty hợp tác lao động nước ngoài (LOD),

2. Cty xây dựng và thương mại (Traenco),

3. Cty XNK và hợp tác quốc tế (Coalimex),

4. TCty XNK xây dựng VN (Vinaconex),

5. Cty cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại (Sona),

6. Cty đầu tư thương mại Vạn Xuân (VIC),

7. TCty Dệt-May VN (Vinatex),

8. Cty XNK cung ứng vật tư thiết bị đường sắt (Virasimex),

9. TCty Thép VN (VSC), 10. TCty Lâm nghiệp VN (Vinafor), 11. TCty Xây dựng Sông Đà (Simco),

12. TCty Thương mại và Xây dựng (Vietracimex), 13. TCty Cơ khí giao thông vận tải (Trancinco), 14. Cty thương mại dịch vụ XNK Hải Phòng (Tradimexco), 15. Cty XNK Quảng Ninh (Qunimex), 16. Cty vận tải Thuỷ Bắc (Nosco), 17. Cty XNK chuyên gia lao động và kỹ thuật (IMS), 18. TCty Phát triển công nghệ và du lịch (Detertour), 19. Cty hợp tác kinh tế Quân khu IV (Coecco), 20. Cty kinh doanh tổng hợp và XNK Ninh Bình, 21. Cty dịch vụ XNK tiểu thủ công nghiệp các tỉnh phía nam (Coopimex),

22. Cty dịch vụ du lịch dầu khí (PVTSC), 23. Cty dịch vụ XKLĐ và chuyên gia (Suleco), 24. Cty XKLĐ, thương mại và du lịch (Sovilaco), 25. Cty XNK và hợp tác đầu tư GTVT (Tracimexco), 26. Cty đầu tư phát triển GTVT (Tracodi), 27. Cty dịch vụ đầu tư Bà Rịa - Vũng Tàu (Vungtau Invescon), 28. Cty đầu tư xây dựng và XNK VN (Constrexim), 29. Cty hải sản Biển Đông (Esfico), 30. Cty may và XKLĐ Việt Trì - Phú Thọ, 31. Cty XNK và lương thực Trà Vinh, 32. Cty đầu tư XNK Đắc Lắc, 33. Cty dịch vụ lao động hợp tác quốc tế (Interserco), 34. Cty cổ phần thương mại đầu tư Cửu Long (Intraco), 35. Cty dịch vụ XKLĐ và chuyên gia Thanh Hóa, 36. Cty hỗ trợ phát triển dân tộc miền núi, 37. Cty du lịch dịch vụ XNK Phú Thọ, 38. TCty Đường sông Miền Nam (Sowatco), 39. Cty dịch vụ và thương mại (TSC), 40. TCty Xây dựng và phát triển nông thôn (Vinacco), 41. Cty xây dựng và phục vụ việc làm TNXP Đà Nẵng, 42. Cty du lịch khách sạn Thái Bình, 43. TCty Xây dựng công nghiệp VN (Vinaincon), 44. Cty Latuco (Tổng LĐLĐVN), 45. TCty Xây dựng số 4 (Bộ NNPTNT), 46. Cty xây dựng số 8 (Bộ Xây dựng).

Nhìn vào danh sách này, người ta thấy có một số ít công ty chuyên về lao động, còn đối với rất nhiều công ty dịch vụ XKLĐ chẳng có liên quan gì đến chức năng của họ cả.

Số phận công nhân được xuất khẩu ra sao ? Phải nói, tất cả anh chị em hy vọng ra nước ngoài lao động là để kiếm tiền. Nhưng để được đi kiếm tiền, họ phải xuất tiền ra trước. Số tiền mỗi người phải đóng cho các công ty môi giới không phải là nhỏ. Một người lao động bỏ trốn tại Đại Hàn đã cho phóng viên một tờ báo trong nước biết rằng : "Cả gia đình tôi phải bán đất đai, chạy vạy vay mượn đủ 6000USD cho tôi đặt cọc để sang đây". Nếu tính thu nhập trung bình đầu người của Việt Nam là 400 USD một năm thì đây là lợi tức của bao nhiêu năm ? Anh chị em công nhân than phiền vì lệ phí do môi giới ấn định rất cao, khoảng từ 2100 đến 3000 USD. Tới nơi, cũng có người may mắn có công ăn việc làm tốt, đúng với họp đồng. Nhưng rất đông đã bị vỡ mộng vì công việc không đúng với những gì ghi trên giấy tờ. Người làm gạch men thì bị đi vác gạch ống, người đi làm tiếp viên khách sạn thì trở thành con ở cho tư gia...

Còn về giấc mơ làm giầu bằng mồ hôi và sức lao động của mình thì xin hãy theo dõi hành trình của một người LĐXK đi Mã Lai: "Lê Văn Ninh là một trung niên trông già hơn tuổi 40, đã hồ hởi bước lên máy bay sang Malaysia, cùng đi với anh là 30 người khác. Điều kiện để đi là mỗi người phải mang theo 1.500 USD, sang bên đó sẽ có người lo đầy đủ chỗ ăn, ở, hộ chiếu, việc làm với tiền lương 6 triệu đồng/tháng. Anh Ninh đem sổ đỏ nhà đất thế chấp ngân hàng lấy tiền mang đi với hy vọng đổi đời. Nhưng...Thảm cảnh ở xứ người... Qua tới Malaysia, anh Ninh cùng nhóm được đưa đến công trường xây dựng. Công việc chỉ là dùng cơ bắp bưng bê vật liệu. Hàng ngày, họ được đưa đi, về bằng những chiếc xe bịt bùng. Cứ mỗi khi đòi tiền lương thì ông chủ chỉ "tạm ứng" một vài trăm ringgit để mưa thức ăn. Nửa năm làm không lương...." (theo báo Lao Động 1/8/2003).

Theo báo chí trong nước thì hiện nay có tới "300.000 lao động đang làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động, mỗi năm chuyển về nước gần 1,5 tỷ USD bằng đường chính ngạch. Tuy nhiên, con số này chỉ bằng khoảng 1/3 tổng số tiền thực tế do người lao động chuyển về nước". Ngoài ra còn một khoản tiền nữa mà công nhân nhất định không chịu đóng. Đó là mỗi tháng công nhân phải đóng 10% số lương của mình cho công ty đã gửi mình đi làm ở nước ngoài. Nếu lấy số trung bình là 45 USD mỗi tháng cho một công nhân thì hàng tháng cộng sản Hà Nội đã bóc lột thêm của công nhân là 13,5 triệu đô la và 1 năm là 162 triệu ! Đây là một hình thức "đóng hụi chết". Các công ty XKLĐ đã đem con bỏ chợ, lại mỗi tháng còn thâu lợi hàng triệu mỹ kim. Nhà nước cộng sản Hà Nội là người chủ trương xuất khẩu lao động. Các công ty của họ đúng là những cái "cái chợ nô lệ" trá hình. Công nhân đã thực sự trở thành hàng hóa trên thị trường rộng lớn.

Bán Phụ Nữ Cho Nước Ngoài

Từ nhiều năm nay, người ta đã nghe nói đến hiện tượng "cô dâu Đài Loan". Đại để đó là những cô gái Việt Nam lây chồng người Đài Loan. Bình thường ra, phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài là điều bình thường, đã xảy ra từ lâu rồi. Nhưng về "những cô dâu Đài Loan" có nhiều điều phải nói, phải tố cáo trước dư luận. Tại Sài Gòn cách đây không lâu đã có một cái chợ gọi là "chợ chọn vợ". Chợ này lúc đó họp ở một công viên nhỏ trên đường Lãnh Bình Thăng. Hàng hóa là những cô gái quê, vì nhà nghèo nên phải chấp nhận lấy chồng Đài Loan để kiếm chút tiền giúp đỡ cha mẹ, các em... Kẻ mua là những người Đài Loan, già có, trẻ có, lành lặn có, tàn tật có... Họ đến xem hàng, bắt há mồm khám răng, nắn bóp chân tay và thân mình... Không khác gì ở chợ nô lệ Sandal Bedesten thời trung cổ. Ở đây cũng có bọn cò, bọn lái, bọn thông dịch. Được "đậu" là cô dâu là ngày hôm sau làm đám cưới. Nhiều khi người đứng ra cưới không phải là chú rể mà là "người đại diện". Vì dư luận chống đối nên nhà cầm quyền địa phương đã phải dẹp cái "chợ người" này. Nhưng không vì thế mà việc buôn bán phụ nữ bị ngưng trệ. Chợ đã chuyển về một số khách sạn quanh vùng. Có người túc trực ở gần công viên cũ để điều hướng khách hàng tới những chợ chui.

Cũng như trong dịch vụ XKLĐ, bọn môi giới, bọn cò mồi, bọn thông dịch đã ăn chặn đầu chặn đuôi, khiến cho những nàng Kiều Việt Nam sau khi đã bán mình đi làm dâu xứ người chỉ còn được khoảng 100 đô la đưa cho cha mẹ, gọi là giúp đỡ cải thiện kinh tế gia đình. Thế là họ "nhắm mắt đưa chân" đi về nhà chồng ở tít bên Tàu. Thực tế phũ phàng đã đổ ập đến với họ khi họ tới Đài Loan. Người "chồng" có thể què quặt, đui mù, già nua... tóm lại họ không thể cưới được vợ ở nước họ. Đấy là còn khá. Có cảnh, người đàn ông, vợ con còn sống sờ sờ ra đó, mà "mua" thêm người đàn bà Việt Nam về để làm con ở, là "nô lệ". Có cảnh trong gia đình nhà chồng, ai muốn ngủ với "cô dâu" Việt Nam thì cứ tự nhiên thỏa mãn thú tính. Có cảnh sau khi bị hãm hiếp tập thể "cô dâu" Việt Nam bị bán vào các động điếm và bị ép buộc làm nghề mại dâm. Hầu hết những "cô dâu" Việt Nam đều trải qua những trận đòn vọt nặng nề. Không giấy tờ tùy thân, không đồng bạc dính túi, họ muốn trở về Việt Nam cũng không được. Có trốn ra được thì cũng phải đầu tắt mặt tối tìm một công việc gì để kiếm tiền dành dụm mua vé máy bay về nước.

Hãy nghe lời chia sẻ của một thiếu nữ người miền Nam, 25 tuổi đã là cô dâu Đài Loan: "... Em bước chân qua đến Đài Loan, cả cuộc đời em, em hối hận... En xin mấy chị Việt Nam đừng có qua bên đây nữa. Qua đây chỉ có càng ngày càng khổ chứ không có sung sướng gì. Em gặp nhiều người, chẳng có ai hạnh phúc. Ai cũng khóc, ai cũng khổ. Các chị đừng có đi theo em. Đừng có nghe lời người ta nói ngon, nói ngọt mà qua mé bên nây. Qua đây khổ lắm. Nói thiệt đó..."

Ở thời đại Internet ngày hôm nay, chợ nô lệ còn họp trên Internet. Trên mạng của hãng eBay ngày 2/3/2004 vừa qua vừa xuất hiện một trang bán đấu giá 3 cô gái Việt Nam, giao "hàng" tại Đài Loan. Cộng đồng Việt Nam tại Hải ngoại đã hết sức phẫn nộ và đồng loạt lên tiếng phản đối vì đây là một trường hợp vi phạm nhân quyền trầm trọng, coi con người như một mớ hàng hóa. Ngay tại Đài Loan, Hội Phụ Nữ cũng đã lên tiếng và đứng tên kiện hãng internet eBay. Điều thắc mắc là ở Việt Nam cũng có Hội Phụ Nữ. Người bị xúc phạm là phụ nữ Việt Nam. Nhưng Hội Phụ Nữ Việt Nam đã im hơi lặng tiếng bỏ mặc cho bọn Đài Loan làm nhục chị em phụ nữ mình. Không hiểu các bà trong hội này có ăn chia gì với bọn buôn người, gả bán phụ nữ sang Đài Loan hay không ? Thực chất vấn đề bán gái Việt Nam sang Tàu không phải chỉ bán cho Đài Loan mà còn cho các tỉnh phía nam Trung Quốc. Nếu không có sự thông đồng của Đảng và Nhà Nước XHCN/VN thì làm sao mà quốc thể lại bị ô nhục đến thế này được.

Xuất Khẩu Trẻ Em Sang Kampuchea Làm Nghề Mại Dâm

Đầu năm nay Đài Truyền Hình NBC của Hoa Kỳ đã thực hiện một thiên phóng sự về nạn bắt trẻ em vị thành niên hành nghề bán dâm. Ngay sau khi thiên phóng sự Dateline được trình chiếu vào đêm 23/01/2004, dư luận người Việt và người Mỹ đã hết sức công phẫn trước những hình ảnh phóng viên chương trình Dateline cùng với cảnh sát Kampuchea tấn công vào những ổ điếm ở khu Svay Pak, giải thoát hàng chục em bé tuổi từ 5 đến 15 bị bắt buộc làm nghề gái điếm. Điều đau đớn nhất là đa số các em này là các trẻ em Việt Nam với những tên quen thuộc như Liên, tuyết, Xuân vv...

Ở đây, người ta chào "hàng" là những cô gái rất trẻ. Chỉ với 600 đô la là có thể dẫn một em gái 14, 15 còn trinh đến khách sạn hành lạc trong 3 ngày! Quá rẻ đối với những tên yêu râu xanh Âu Mỹ bệnh hoạn. Cuộc hành quân chớp nhoáng này đã giải thoát được 37 em mà đa số dưới 10 tuổi. Một thành viên của đoàn công tác là ông Bob Mosier, Trưởng Ban Điều Tra của Tổ Chức Công Lý Thế Giới đã thốt lên : "Nếu có một em bé gái khoảng 8 hay 9 tuổi mỉm cười với bạn, có thể bạn nghĩ rằng có một lúc nào đó, bạn sẽ làm tình với em để em có tiền. Nụ cười đó là vì tiền. Nụ cười này làm tôi nhớ đến nụ cười nở trên khuôn mặt con gái tôi khi tụi nó biết sẽ được dẫn đi chơi Disney World".

Trong thiên phóng sự này, phóng viên Hansen đã thực hiện cuộc phỏng vấn Bà Mu Soc Hua, Bộ Trưởng Đặc Trách Vấn Đề Phụ Nữ. Bà này cho biết hiện trên đất Chùa Tháp có đến khoảng 30.000 em bé gái đang bị bắt làm nghề "nô lệ tình dục". Than ôi! trong 30.000 em này có đến mấy ngàn, mấy vạn em bé Việt Nam đã bị cướp đi tuổi thơ để dìm mình trong đống bùn nhơ ?

Làm sao các bé gái Việt Nam tuổi còn thơ ấu này có thể tới được xứ KamPuchea ? Chắc chắn, một mình các em không dám đi và cũng không biết đường đi, cho dù là đi bằng xe, tàu... Hẳn nhiên là phải có người lớn đưa các em tới đây. Chắc chắn là không phải cha mẹ các em đưa các em tới đây. Không cha mẹ nào nhẫn tâm đưa con gái mình chưa đầy 10 tuổi vào ổ điếm để tiếp khách. Vậy thì là bọn buôn người, bọn ma cô, bọn đầu nậu. Chúng có thể dụ dỗ cha mẹ các em, gạ mua các em với một cái giá nào đó. Chúng có thể lừa gạt đem về làm con nuôi... Giựt được các em ra khỏi vòng tay những bà mẹ Việt Nam không phải là dễ. Nhưng chúng đã làm được. Tại sao những gia đình hiếm muộn người Âu Mỹ sang xin con nuôi lại bị luật pháp của Nhà Nước cộng CSVN gây nhiều khó khăn đến nỗi họ đã phải đi xin con hay mua con nuôi ở các xứ khác ? Hay là Nhà Nước muốn dành các em cho cái thị trường nô lệ tình dục ở xứ Kampuchea ? Nếu không có sự toa rập của chính quyền CSVN thì họ không dễ dàng gì mang hàng ngàn nếu không muốn nói hàng chục ngàn em gái nhỏ sang làm điếm ở xứ người. Nghĩ cho cùng, tên yêu râu xanh Lương Quốc Dũng, Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Thể Dục Thể Thao quả là dại dột. Hắn chỉ cần đi "tham quan" một chuyến nước bạn anh em Kampuchea thì cũng có thể bắt các em bé gái Việt Nam phục vụ đủ điều. Mắc chi hắn "dửng mỡ" ngay trong nước với một bé gái 13 tuổi trong khách sạn Eden ở ngay Hà Nội ?

Nhục Quốc Thể

Hà Nội đang ráo riết chuẩn bị kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Họ khoe đã đưa dân Việt Nam ra thoát ách nô lệ của thực dân Pháp. Thực chất, họ đã thay cái ách nô lệ của thực dân bằng cái ách nô lê của cộng sản. Toàn dân ta đã trải qua hơn nửa thế kỷ sống kiếp nô lệ, không có nhân quyền, không có nhân phẩm. Xuát khẩu ra nước ngoài hàng trăm ngàn lao động mà thực chất là nô lệ để làm những công việc hèn hạ, người bản xứ không thèm làm. Người Việt Nam đồng nghĩa với tôi mọi, nô lệ. Đó là một mối nhục quốc thể. Để cho hàng chục ngàn phụ nữ bị bán sang Trung Quốc, Đài Loan sống kiếp tôi đòi, đày đọa ; đến khi biết rõ họ bị ngược đãi, không hề lên tiếng, không hề can thiệp. Đàn bà Việt Nam đồng nghĩa với đĩ điếm, hạ cấp. Đó là một mối nhục quốc thể nữa. Dung dưỡng để đưa hàng vạn bé gái sang Miên làm gái điếm, phá nát bao cuộc đời thơ ngây, trinh trắng. Trẻ em Việt Nam ở Miên đồng nghĩa với nô lệ tình dục. Đó là mối nhục quốc thể thứ ba. Nhưng thiết nghĩ mối nhục quốc thể lớn nhất đối với Việt Nam là nước ta đang bị một tập đoàn vô nhân cai trị.



-- Ma co Ho Chi Minh (MoiRoCSBipBomHoChiMinh@damtac.ngu.net), September 26, 2004.



Response to Thật là chó chết .

.."C thể c ngy Bắc kỳ sẻ biết mi bom nguyn tử . Nhưng xin bảo đảm gia đnh bạn bạn sẻ an ton . Cộng sản chắc chắn sẻ chết .

-- USA (USA@usa.com), September 26, 2004.
"...

Ti khng thch giọng điệu cũa anh ny.

No more bom đạn, chm giết trn qu hương VN . OK???. Cu trn l giọng điệu Phản Tuyn Truyền cũa VC



-- Kẻ Sĩ Bắc H (ke_si_bac_ha@yahoo.com), September 26, 2004.

Response to Thật là chó chết .

kha' lam' KSBH....do' la` 1 thang` Vem nhay vao` cho~ mom~ doc cua no' choi don` mat day.

-- Ho Chi Minh Ma Co (MoiRoCSBipBomHoChiMinh@damtac.ngu.net), September 26, 2004.

Response to Thật là chó chết .

Thang tren no noi dung chu.Nguoi nha cua cac bac o VN bi CS no chon sonfg het roi,con ai de ma chet nua dau,cu tha vai trai bom NT vao dem giao thua la dan vui lam,boi nghe don CS cam dot phao roi.CAc bac cu gop tien tro cap XH lai ma mua bom nha,thieu thi noi em.

-- (@@@.@@), September 27, 2004.

Response to Thật là chó chết .

Thang tren no noi sai ri "5 lồi" ơi .

Nguoi nha cua cac bac đa di cư v Nam ,năm 75 th chạy qua Mỹ hết rồi .

Sau vụ đấu tố bc Hồ ln đi khc sứt mướt v xung xướng ,xin lỗi ton dn v thi hnh qu chậm .

Bc Hồ đ cảm ơn v tăng chức cho đồng ch Trường Chinh đ thay mặt Bc giết chết đm b con ging họ "xc sinh" của bc v bọn ny l địa chủ ,cường ho c b (lịch sử ghi nhận l cha bc Hồ đ lợi dụng chức vụ đnh chết người dn),lm việc vừa cho triều đnh Huế vừa cho Ty .

-- thich du thu (toollovers@comcast.net), September 27, 2004.


Moderation questions? read the FAQ