MẶT TRÁI CỦA TUYÊN NGÔN ÐỘC LẬP 2 THÁNG 9

greenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread

MẶT TRÁI CỦA

TUYÊN NGÔN ÐỘC LẬP 2 THÁNG 9

http://members.tripod.com/~shcdqld/2thang9.html

Vũ Hữu Trường

Hằng năm, khi Tháng Chín đến, Hà Nội rêu rao mừng lễ độc lập 2 tháng 9 và lợi dụng việc "thả tù" làm rùm beng để đem lại niềm vui không mất tiền mua hầu đánh bóng chế độ. Năm nay, nhân ngày 2 tháng 9 của đầu thiên niên kỷ năm 2000, chúng tôi xin chia sẻ cùng quý bạn đọc đôi điều chính tà về biến cố "Tuyên ngôn độc lập" diễn ra trên đất nước ta 55 năm về trước (1945-2000), để từ đó củng cố và phát huy quyết tâm vãn hồi một nền độc lập tự do thực sự cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử

Hơn ba phần tư thế kỷ, hai tiếng "độc lập" từng là ước mơ của dân tộc Việt, nhưng ước mơ đó đã bị những tên hoạt đầu chính trị và lãnh đạo cộng sản tước đoạt và biến dạng dưới hình thức cai trị độc tài, độc đảng . Trước khi bước vào ngàn năm thứ ba, vào thế kỷ mới - thế kỷ 21, thiết tưởng cũng nên nhìn lại vài nét đặc biệt về tình trạng đất nước trong thế kỷ qua. Kể từ khi quân Pháp khởi sự gây hấn nước ta tại Ðà Nẵng năm 1847, và dần dần xâm chiếm Việt Nam làm thuộc địa, có thể nói bước ngoặc lớn trong lịch sử Việt Nam xảy ra cách đây trên dưới 100 năm, vào gần cuối thế kỷ 19, khi toàn quyền Paul Doumer (1897-1902) ổn định guồng máy cai trị và khuyến khích người Việt Nam tham gia việc nước. Tiếp đến, thời toàn quyền Albert Sarrault (từ 1911), cũng như Maurice Long (1919-23) áp dụng chính sách cởi mở, khiến những người trong nước trở nên thức tỉnh hơn, mạnh dạn chống lại thái độ và hành vi của đa số thực dân Pháp. Một số lãnh tụ người Việt có tinh thần muốn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ, đã tìm cách liên lạc với giới cầm quyền Quốc Dân Ðảng tại Hoa Lục để thực hiện ước muốn cho Việt Nam được độc lập tự do.

Ngày 19-6-1924, nhà cách mạng Phạm Hồng Thái đã mở đầu phong trào đấu tranh, và dù ông cùng các đồng chí thất bại chấp nhận cái chết cách oanh liệt, cũng được tiếp nối bằng những phong trào nổi dậy đòi cho Việt Nam được độc lập. Sau khi Bảo Ðại lên làm vua năm 1925, các đảng phái phôi thai bắt đầu hoạt động như đảng Lập Hiến đòi hỏi cải cách tại Nam Kỳ; đảng Việt Nam Nghĩa Ðoàn tại Hà Nội, đề cao khí thế anh hùng của đức Trần Hưng Ðạo; Hội Phục Việt tại Trung Kỳ do ông Lê Văn Huân chủ xướng, tố cáo chính sách dã man của thực dân Pháp; và đảng Việt Nam độc lập tại Pháp bày tỏ lập trường đòi tự do dân chủ. Cuộc đấu tranh chính trị dẫn đến các đảng cách mạng chính thức, trong đó có Việt Nam Quốc Dân Ðảng (1927) do nhà cách mạng Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo; đảng Tân Việt do Lê Văn Huân, Nguyễn Ðình Kiên, mà sau này Trần Phú biến thành đảng cộng sản Ðông Dương. Ngoài ra, còn có Việt Nam Thanh niên Cách mạng Ðồng chí hội do Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh thành lập năm 1925 và 1930, hợp với đảng CS Ðông Dương đưa Trần Phú làm tổng bí thư. Các đảng này đều nhờ đất của Trung Hoa làm nơi dung thân vì nhà cầm quyền Trung Hoa với sách lược của Quốc Dân Ðảng muốn các lực lượng đấu tranh cầm chân Nhật tại Ðông Dương, giảm bớt áp lực trên Hoa Lục. Trong thế cờ đó, tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc nhận được chỉ thị của đệ tam quốc tế cộng sản, từ Moscou trở lại Hoa Nam, đã triệu tập một hội nghị tại Quảng Tây gồm mọi thành phần quốc gia và nhiều tổ chức cứu quốc khác, trong đó cộng sản là thành phần nồng cốt nhưng được che dấu rất cẩn mật, lập ra Mặt Trận Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội, rêu rao diệt phát xít, chống thực dân. Mật Trận gọi tắt là Việt Minh.

Ngày 8-9-1941, Mặt trận kêu gọi các đảng phái và thành phần quốc gia còn lại cùng chung sức đòi độc lập cho Việt Nam. Dưới áp lực của tướng Trung Hoa Trương Phát Khuê, các đảng chính trị và các nhóm đấu tranh đều thỏa thuận đứng trong MTVM, lập chính phủ Cộng Hòa lâm thời với thành phần gồm đa số không cộng sản. Chính phủ hoạt động nhằm:

- Giải phóng Việt Nam khỏi ách thống trị của Pháp và Nhật;

- Thực hiện nền độc lập Việt Nam với sự giúp đỡ của Quốc Dân Ðảng Trung Hoa.

Nguyễn Ái Quốc thừa cơ đem các đơn vị du kích giành thế chủ động trong Mặt Trận Việt Minh và từ Mùa Xuân 1945, tổng bộ VM tung ra hoạt động trong mọi lãnh vực với chiêu bài chống Nhật. Ðến tháng 7-1945, VM còn kêu gọi lật đổ cả Bảo Ðại để thành lập nền Cộng Hòa. Ngày 6-8-1945, sau khi Nhật bị bom nguyên tử đầu tiên tàn phá, ông Hồ đưa ra kế hoạch cướp chính quyền:

- Cắt bỏ mọi liên hệ của chính phủ lâm thời với tướng Trung Hoa Trương Phát Khuê;

- Ðêm 13-8-1945, tổng bộ VM chuẩn bị "giờ tổng khởi nghĩa".

Sau hai quả bom nguyên tử của Hoa Kỳ đổ xuống trên Nagasaki và Hiroshima, ngày 15-8, Nhật đầu hàng Ðồng Minh. Ngày 16-8, VM triệu tập "Quốc dân đại hội" tại Tân Trào, Tuyên Quang, với các đại biểu của các đảng phái chính trị, các đoàn thể, tôn giáo, sắc tộc, gồm các đại biểu Bắc-Trung-Nam và Việt kiều hải ngoại về. Ða số đại biểu chưa hiểu Việt Minh là gì, đã thông qua đường lối và cử ra "Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam", với chính phủ lâm thời do HCM lãnh đạo. Ngày 19-8-45, VM huy động lực lượng cả 100.000 người, đa số không phải là cộng sản, ở Hà Nội và phụ cận biểu tình, chiếm các công sở ở Hà Nội và treo cờ đỏ sao vàng lên. Vì thế, Hà Nội thường gọi 19-8 là ngày cách mạng thành công.

Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Ðình, Ông Hồ tuyên bố ước vọng của nhân dân Việt Nam muốn được "bình đẳng, độc lập, tự do" và dựa theo Hiến Pháp của Mỹ được viết vào 1787 để long trọng tuyên bố:

"Mọi người sinh ra đều bình đẳng.

Không có gì quý hơn Ðộc lập, Tự do."

Còn gì nữa đâu?

Do các đảng phái quốc gia tham dự vào Mặt Trận VM không hiểu rõ cộng sản là gì và lại thấy tháng 11-1945, VM giải tán đảng CSÐD, lập "Hội Nghiên Cứu Mác-xít," nên không đề cao cảnh giác, khiến Ông Hồ và đảng của ông đã tự ý đi ngược lại Tuyên ngôn độc lập 2-9.

Trước tiên, họ mưu đồ dẹp bỏ bình đẳng. VM tổ chức tuyển cử Quốc Hội với các ứng cử viên nêu lên khẩu "Ðộc lập và Dân chủ", không ai tự nhận là cộng sản, nhưng rồi Ðồng Minh Hội chiếm đa số trong 70 ghế Quốc Hội 1-1946 chỉ để một ít cho Quốc Dân Ðảng. Cụ Nguyễn Hải Thần được cử giữ chức Phó Chủ Tịch chính phủ mở rộng, nhưng phía sau thì các ủy ban địa phương tiến hành ám sát hoặc xét xử các phần tử quốc gia bằng cách qui tội "Việt gian" hay "hoạt động phản cách mạng". Bình đẳng thì phải có đối xử công bình với mọi người dân, và chính phủ phải dựa vào Hiến pháp và Luật pháp để cầm quyền. Ðiều đó không thể nào có được dưới chế độ cộng sản, mà rõ ràng qua hơn nửa thế kỷ, nhà cầm quyền Hà Nội chỉ dùng luật rừng, dựa vào vũ lực và độc tài độc đảng để cai trị.

Thứ đến, Ông Hồ không tôn trọng việc bảo vệ nền độc lập của xứ sở vì đối với ông, chủ nghĩa Mác-Lê, đỉnh cao trí tuệ loài người, chủ trương đại đồng quốc tế vô sản không còn biên giới quốc gia dân tộc. Cộng sản chỉ cần bảo vệ việc cầm quyền của đảng, bất chấp tai hại xảy đến cho dất nước. Vì thế, VM đã ký với Pháp thỏa ước 6-3-46 công nhận "Việt Nam là một quốc gia trong Liên bang Ðông Dương và Liên Hiệp Pháp". Ông Hồ bị những người quốc gia ở Nam Kỳ đang hăng say chống Pháp, tố cáo phản bội độc lập, do đó, để củng cố địa vị, ngày 14-6-46, ông ta lại ký tạm ước hợp tác với Pháp!

Ngoài ra, Ông Hồ và đảng cộng sản dẹp bỏ tự do một cách tinh vi. Từ tháng 7-46, họ đã nhờ Pháp dẹp dần các lực lượng quốc gia bằng đàn áp, giết hại, làm cho Ông Bảo Ðại Vĩnh Thụy, cố vấn tối cao và ngay cả Phó Chủ Tịch chính phủ, cụ Nguyễn Hải Thần phải trốn sang Trung Hoa. Từ khóa họp thứ hai của Quốc Hội, vào 28-10-46, cộng sản âm thầm thao túng chính phủ bằng hiến pháp trao quyền cho chủ tịch Quốc Hội bổ nhiệm thủ tướng và một Ban thường vụ. Cộng sản chi phối các hoạt động của Ban thường vụ để điều hành việc nước theo đường lối của đảng khiến các điều khoản về tự do như tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do bầu cử, nêu ra trong Hiến pháp chỉ là miếng bánh vẽ và không bao giờ được áp dụng trong thực tế.

Chính Nguyễn Hộ, cựu Phó chủ tịch MTGPMNVN, cựu Phó Bí thư TUÐBTPSG, chủ nhiệm báo Truyền Thống Kháng Chiến, khi được lệnh ngăn cấm ra báo, đã uất hận thốt lên: " Dưới chế độ thực dân Pháp đàn áp bóc lột trước đây mà bác Hồ còn được phép xuất bản một tờ báo cộng sản. Còn bây giờ dưới chế độ cộng sản gọi là dân chủ gấp triệu lần hơn mà lại ngăn cấm báo xuất bản bởi những cựu kháng chiến và của những đảng viên cộng sản lâu năm."

Ðối với tôn giáo, người dân Việt thừa biết không thể có tự do tôn giáo dưới chế độ công sản. Mọi tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo, B’hai, đều bị đàn áp bách hại trong hơn nửa thế kỷ qua, rõ nét nhất là tại Miền Nam Việt Nam sau ngày 30-4-75, chỉ có tự do ngoài mặt, cho phép thiện nam tín nữ, đạo hữu, giáo hữu đến chùa, nhà thờ, còn bên trong, đảng và nhà nước kềm kẹp tôn giáo bằng mọi cách. Chính đặc sứ LHQ về tôn giáo, ông Alfatar, năm 1998, cũng đã tường trình sự thật về đàn áp tôn giáo một cách tinh vi và phổ biến dưới chế độ CSVN. Rõ ràng hiện nay, CS Hà Nội đang chĩa mũi dùi vào PGHH, tấn công, khủng bố, kể cả "vu cáo lãnh tụ PGHH làm gián điệp cho nước ngoài". Những lời tuyên bố dân chủ, tự do tại quảng trường Ba Ðình, 55 trước đây, ngày 2-9-45, đã bị đảng CS phản bội và lợi dụng làm công cụ tuyên truyền xảo quyệt. Chính ông Trần Xuân Bách, cựu ủy viên Bộ CTTƯÐ, đã tố cáo khi phát biểu tại câu lạc bộ Kháng Chiến, ngày 12-12-89: "Dân chủ không phải là ban ơn. Ðó là quyền của dân với tư cách người làm nên lịch sử, không phải ban phát, do tấm lòng người lãnh đạo này hay lãnh đạo kia... Ðảng không thể dùng quyền lực thay cho năng lực. Thời đại nào có trí tuệ của thời đại ấy .. Dân đang đòi dân chủ hơn, đòi hỏi công bằng xã hội hơn, đòi hỏi cán bộ đảng viên và đảng phải vươn lên."

Bàn về thực chất của cái gọi là "cách mạng Tháng Tám" và "Tuyên ngôn độc lập 2-9-45", tiến sĩ Phan Ðình Diệu, Phó Viện trưởng Viện Khoa Học VN nhận xét với tư cách một người trí thức tại Ðại Hội VII năm 1991 như sau: "Cách mạng Tháng Tám và tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn dân tộc Việt Nam huớng tới ước mơ tha thiết là xây dựng một nước độc lập, tự do và hạnh phúc. Hơn nửa thế kỷ trì trệ, suy thoái và khủng hoảng triền miên đã đủ chứng tỏ sự lãnh đạo của đảng cộng sản không thích hợp để đạt tới tự do, dân chủ và hạnh phúc cho dân tộc... Vì thế, cần có một chế độ chính trị đa nguyên tôn trọng các quyền tự do dân chủ của mỗi người dân."

Tất cả các đòi hỏi dân chủ dưới sự lãnh đạo của CSHN chỉ là điều "không tưởng" vì thế để mị dân, họ thường dùng sáo ngữ "đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý". Một điều nực cười nữa mà người dân Việt phải đắng cay chịu đựng là tất cả đều do nhân dân làm chủ: từ Quân đội nhân dân, Công an nhân dân,.... mọi thứ đều của nhân dân nhưng chỉ có tiền là thuộc về Ngân Hàng Nhà Nước.!

Ước mong sao đó cũng là những sự thật về ý nghĩa độc lập 2 tháng 9 mà chúng tôi xin chia sẻ cùng quý độc giả để hiểu rõ thế nào là thực chất của CSVN vậy.

Vũ Hữu Trường

-- (tosu_cs@yahoo.com), September 18, 2004

Answers

Response to MẶT TRÃ�I CỦA TUYÊN NGÔN Ã�ỘC LẬP 2 THÃ�NG 9

Việt nam có cần đổ máu quá nhiều để độc lập hay không ? Tại sao hiện nay tất cả hơn 200 Quốc gia tên thế giới đều đã độc lập từ lâu mà đâu có bị chết quá nhiều thanh thiếu niên nam nữ và dân chúng như Việt nam mình đâu ? Tôi nghĩ là tại cộng sản Việt nam ngu và xem tính mạng của nhân dân như cỏ rác .

Cám ơn anh Tosu_cs đã cho đọc được một bài hay .

-- NLDDT (dtcssc@inVN.now), September 19, 2004.


Response to MẶT TRÃ�I CỦA TUYÊN NGÔN Ã�ỘC LẬP 2 THÃ�NG 9

Nếu VC nó dành đập lập và thống nhất đất nước mà không đố xương máu đồng bào lên cả tổng cộng gần 6 triệu người thì đâu có gần 3 triệu người được các nước tự do niềm nở đón nhận làm công dân của họ .

-- thich du thu (toollovers@comcast.net), September 19, 2004.

Moderation questions? read the FAQ