Vu. kie^.n...William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusettsgreenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread |
***Kính chào toàn thể đồng bào VAS :)))
Cho phép tôi conduct 1 chủ đề là: VỤ KIỆN WJC
Các đồng bào VAS bạn cũng như thù, quốc gia cùng congsan thử cho biết ý kiến về vụ kiện này, nếu ai O biết thi tự SEARCH lấy vì vụ kiện này có tính cách " CHỐNG CỘNG "
Nếi ai O biết thì tôi sẽ passé vào cho các Info
PS: Muốn chống cộng thì đây là 1 cách thử IQ
-- No more Mặt Trận OK :)))))) in this SUBJECT :))))) (ChuyenTriHOINACH@aol.com), September 11, 2004
TổSư_cs xin post bài tài liệu này lên cho mọi người dễ bề nhận định về đề tài bác ChUyEnTrYhOiNaCh nêu ra..
Trung Tâm William Joiner đã Xúc Phạm đến Quyền Lợi và Danh Dự
của Toàn Thể Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Trên Khắp Thế Giới
www.daiviet.org
Lê Tùng Minh
Trong vài tháng gần đây đã có dư luận xôn xao và rất bất mãn trong các cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản trên thế giới, đặc biệt là Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn ở Mỹ, về một việc làm có tính chất xúc phạm đến quyền lợi và danh dự của toàn thể Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản trên khắp thế giới của một tổ chức mang tên là William Joiner Center (WJT).
WJC là một tổ chức trực thuộc University of Massachusetts (UMass) ở Boston, do tiến sĩ Kevin Bowen làm giám đốc. Nhiệm vụ chính của trung tâm này là "nghiên cứu về chiến tranh và những hậu quả xã hội của nó" (for the study of war and social consequences).
Năm 1999, đại học UMass Boston đã được tổ chức "Rockefeller Foundation Humanities Fellowship" (Quỹ học bổng nhân văn Rockefeller) cấp cho một ngân khoản tài trợ trong thời gian 4 năm để tiến hành nghiên cứu một công trình khoa học nhân văn, mang tên là "Giải thích và tái giải thích đặc trưng và vị trí của cộng đồng Việt Nam tị nạn trên thế giới" [(Re) Constructing Identity and Place in Vietnamese Diaspora]. Công trình khoa học nhân văn quan trọng này được giao cho WJC thực hiện.
Người đứng đầu một Hội Đồng Thường Trực (Director for the Standing Committee) chỉ đạo việc nghiên cứu chương trình khoa học nhân văn mang tên rất dài đã nêu ở trên, là ông tiến sĩ Kevin Bowen. Và theo ông thì "Chương Trình này là kết quả về sự cộng tác rộng rãi của nhiều phân khoa đại học khác nhau: Chương trình nghiên cứu người Mỹ gốc Á Châu. Liên minh Thanh niên Mỹ gốc Á Châu Thái Bình Dương, Chuơng trình nghiên cứu Đông Á học; và Trường Cao Đẳng Giáo Dục, Viện Nghiên Cứu người Mỹ gốc Á Châu cùng với WJC - cơ quan trực tiếp nhận tài trợ và quản lý chương trình" (This program is the result of an extensive collaboration among several university departments. They include the Asian American studies Program, the Coalition for Asian Pacific American Youth, the East Asian Studies Program, The Graduate College of Education, Institute for Asian American Studies, and the WJC, the recipient and administrator of the grant ). Cũng theo tiến sĩ Kevin Bowen, mục tiêu nghiên cứu của công trình khoa học nhân văn này là "khảo sát những hình thái khác nhau của các cộng đồng Việt Nam, giải thích và chỉ rõ những hậu quả về lịch sử, văn hóa, và tính đồng nhất trên thế giới của những người Việt tị nạn (to explore the ways various Vietnamese communities define and address the issues of their history, culture, and identity in the world of the diaspora).
Theo tài liệu gọi là "Rockefeller Foundation Humanities Fellowship - UMass Boston Program Plan" (Dự án chương trình xử dụng tiền tài trợ nghiên cứu do quỹ Học Bổng nhân văn Rockefeller cấp cho Đại học Massachusetts ở Boston) đã cho chúng ta biết: WJC sẽ tiến hành nghiên cứu các chuyên đề phục vụ cho công trình khoa học nhân văn (đã nêu ở trên) trong vòng 3 năm, được phân định như sau:
1. Năm thứ nhất tập trung nghiên cứu chuyên đề "Nghiên cứu và giải thích lịch sử Việt Nam" (Examining Constructions of Vietnamese history).
2. Năm thứ hai tập trung nghiên cứu chuyên đề: Những ý kiến phát biểu về các chuyên đề: "Những ý kiến phát biểu về các vấn đề: nghiên cứu văn học, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam trong các cộng đồng người Việt lưu vong trên khắp thế giới" (Emerging Diaspora Voices: Exploring Vietnamese Literature, language, and culture in the Diaspora).
3. Năm thứ ba, từ kết quả nghiên cứu của 2 năm đầu, làm cơ sở cho việc nghiên cứu chuyên đề chính là "Giải thích và tái giải thích đặc trưng và vị trí cộng đồng người Việt tị nạn trên khắp thế giới, trong một viễn cảnh lâu dài" [(Re) Constructions of Vietnamese Identity and Place in the Diaspora: A long term perspective].
4. Năm thứ tư sẽ là năm tổng kết những thành tựu nghiên cứu trong 3 năm đầu. Và công trình nghiên cứu khoa học nhân văn mang tầm cỡ quốc tế này sẽ được dùng làm tài liệu giảng dạy trong các trường Đại học Mỹ, và lưu trữ ở các Thư Viện Quốc Gia được coi như là tài sản văn hóa giáo dục của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
o0o
Là một thành viên của cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản, đã định cư ở Hoa Kỳ, và là một người làm công việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam, tôi rất hoan nghênh mục đích nghiên cứu lịch sử nhân văn của cộng đồng người Việt tị nạn trên khắp thế giới của WJC do tiến sĩ Kevin Bowen đứng đầu. Kết quả đến đâu? Chính xác hay không đúng? Sâu sắc hay hời hợt? Và hậu quả của công trình nghiên cứu đó có giá trị lịch sử và thực tiễn như thế nào? Chúng ta phải đợi sau 4 năm nghiên cứu thì mới phán xét được.
Nhưng điều quan trọng mà chúng tôi muốn gióng lên một hồi chuông cảnh báo cho toàn thể cộng đồng người Việt tị nạn trên toàn thế giới, và cho công luận chân chính trên trường quốc tế, mà đặc biệt là ở Hoa Kỳ, nhìn thấy được một sai lầm không thể chấp nhận của tổ chức William Joiner Center thuộc UMass Boston.
Đó là vấn đề tuyển chọn nhân sự.
Trước hết, là việc mời 2 nhà nghiên cứu văn học cộng sản từ Hà Nội sang, mà theo tiến sĩ Kevin Bowen thì "hai học giả từ Việt Nam là 2 cây bút được văn giới hải ngoại trân trọng và chấp nhận, với những tác phẩm đã được đăng tải hoặc phê bình trên những tạp chí hải ngoại có tầm cỡ ở Mỹ như Hợp Lưu, Văn Học, Vietnamese Review, và tờ Xứ Quảng ở Boston". ("The two invited fellows from Vietnam are scholars whose works has been well received and highly respected in the Diaspora, having been published or reviewed in such major Vietnamese Journals in the US as Hop Luu, Van Hoc, Vietnam Review, and here in Boston in Xu Quang").
Hai "học giả" (từ của Kevin Bowen) đó là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi. Họ sang Mỹ bởi sự tài trợ của WJC (lấy trong ngân khoản tài trợ của Rockefeller Foundation) với tư cách gọi là "sự cộng tác" (the collaboration), và đảm trách nghiên cứu những vấn đề rất quan trọng như sau:
- Hoàng Ngọc Hiến sẽ nghiên cứu về "văn phong, chủ đề và những nguồn sáng tác ở hải ngoại, đặc biệt chú trọng về tình yêu và sự gắn bó với quê hương" ("study the styles, themes, and sources of overseas writings, with particular emphasis on the treatment of love and the attachment to the land")
- Nguyễn Huệ Chi sẽ "sưu tầm và phân tích các tác phẩm phê bình về văn hóa cổ điển Việt Nam - sự nối tiếp, thay đổi và biến dạng của hình thái này trong môi trường hải ngoại" (collect and analyse overseas criticals writings on classical Vietnamese culture - its continuity, change, and transformation in the overseas environment). (Theo "Grant Proposal, và Press Release", on April 15, 2000).
Thật sự, hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi có đúng là "hai cây bút được văn giới hải ngoại trân trọng và chấp nhận" như lời tuyên bố của tiến sĩ Kevin Bowen hay không? Hay là ông ta tuyên bố theo sự cố vấn của ai? Bởi vì từ lời tuyên bố trên đây của tiến sĩ Kevin Bowen, cho nên chúng tôi buộc phải trao đổi trực tiếp với ông mà thôi.
Thưa ông tiến sĩ, ông đã nhận định không đúng về cách nhìn của văn giới Việt Nam hải ngoại đối với 2 cây bút mà ngài xem là "học giả" nổi tiếng đó. Văn giới Việt Nam hải ngoại đâu chỉ bó hẹp trong các tờ báo mà ông đã dẫn, và các tờ báo đó đâu phải là "những tạp chí hải ngoại có tầm cỡ" (in such major Vietnamese Journals) như ngài tiến sĩ đã ca ngợi (!?). Tờ Văn Học của Nguyễn Mộng Giác là một tờ báo "hợp tác đắc lực" với cái gọi là: "giao lưu văn hóa" của cộng sản Việt Nam! Bản thân Nguyễn Mộng Giác đã được Hà Nội thưởng công bằng cách cho phép tác phẩm "Sông Côn Mùa Lũ" của ông ta được xuất bản lưu hành ở trong nước hồi tháng 8/1998. Và chính Nguyễn Mộng Giác là một cây bút đóng góp cho sản phẩm "giao lưu văn hóa" của Cộng Sản Việt Nam, bằng Anh ngữ, để lưu hành ở hải ngoại - sản phẩm này có tên là: "The Other Side of Heaven, Postwar Fiction by Vietnamese and American Writers (xuất bản vào năm 1995).
Hiện nay, trong dư luận của bạn đọc trong các cộng đồng người Việt tị nạn ở hải ngoại chỉ coi tờ Văn Học của Nguyễn Mộng Giác là một tờ báo có khuynh hướng thân Cộng, chứ không ai coi nó là "major Vietnamese Journal" như tiến sĩ Kevin Bowen ca ngợi.
Tờ Hợp Lưu do Khánh Trường chủ biên, về phương diện trình bày có mỹ thuật hơn tờ Văn Học của Nguyễn Mộng Giác, nhưng cũng chỉ là một sản phẩm "giao lưu văn hóa" nằm trong vòng ảnh hưởng của Cộng Sản Việt Nam mà thôi. Vì thế tờ Hợp Lưu cũng không đuợc sự hợp tác của các nhà nghiên cứu và sáng tác văn học có tài năng ở hải ngoại.
Tờ "Xứ Quảng" là một đặc san mang tính chất nội bộ của đồng hương xứ Quảng, một tờ báo địa phương, phổ biến rất hạn hẹp hầu như đa số văn giới Việt Nam hải ngoại không hề biết tới. "Xứ Quảng", theo lời xác nhận của người chủ trương tờ đặc san này, chưa hề đăng bài viết nào của hai tác giả Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi cả. Ông tiến sĩ Kevin Bowen với ý gì mà nêu tên tờ "Xứ Quảng" đi theo tờ Văn Học và tờ Hợp Lưu. Vả chăng nếu đặc san "Xứ Quảng" mà đăng bài của hai nhà văn cộng sản nói trên thì đã gặp phản ứng tẩy chay mạnh mẽ của chính người đồng hương xứ Quảng tị nạn hải ngoại rồi.
Thưa ông tiến sĩ Kevin Bowen, chắc chắn khi ông hạ bút ký giấy mời 2 học giả cộng sản là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi, ông đã biết rõ lai lịch của họ quá rồi! Họ là đảng viên cộng sản thuộc hàng trung cấp (cấp tỉnh ủy). Hoàng Ngọc Hiến - với cương vị là giám đốc Học Viện Nguyễn Du, đang làm công việc đào tạo đội ngũ văn nghệ sĩ phục vụ cho chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa do đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo. Còn Nguyễn Huệ Chi với cương vị Trưởng Ban Lý Luận và Phê Bình Văn Học thuộc Viện Văn Học Hà Nội, có nhiệm vụ truyền bá lý luận văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam (theo "ánh sáng của chủ nghĩa Marx Lenin" đã lỗi thời).
Với những cây bút nặng mùi cộng sản như vậy, hỏi sao họ có thể hiểu được giá trị các sáng tác và nghiên cứu văn học của người Việt Quốc Gia ở hải ngoại. Nếu họ viết đúng theo thực tế của dòng văn học Việt Nam hải ngoại thì họ sẽ chống lại đường lối của đảng Cộng Sản Việt Nam, và điều đó chắc chắn không bao giờ họ làm vì họ là những đảng viên trung thành với đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhưng nếu họ viết theo đường lối của đảng Cộng Sản Việt Nam thì còn gì là sự thật, mà chỉ là xuyên tạc và bóp méo sự thật, để rồi thành những tài liệu tuyên truyền. Vậy, làm sao những công trình giao cho họ nghiên cứu (như đã nói ở trên) sẽ trở thành những công trình khoa học nhân văn chân chính, khách quan, để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu lâu dài (như mục đích của chương trình nghiên cứu của WJC)?
Tôi xin đề cử cho ông tiến sĩ một dữ kiện sau đây để ông suy ngẫm về hậu quả của việc hai nhà văn Cộng Sản của ông. Đó là:
Tập thơ "Những Cụm Cỏ Non" của tác giả Ngọc Thanh, đã được quảng cáo rầm rộ trong cộng đồng người Việt ở Paris (Pháp), rằng sẽ có một buổi ra mắt tại Thư Viện Diên Hồng (L'Institut de l'Asie du Sud Est) vào chiều chủ nhật ngày 21-1-1999, do sự bảo trợ của Resto Service Store... và dưới sự chủ tọa của nhà thơ Hoài Việt. Thế nhưng buổi ra mắt tập thơ của tác giả Ngọc Thanh phải đình hoãn và hủy bỏ. Vì sao vậy? Bởi vì tập thơ "Những Cụm Cỏ Non" đã được ấn hành tại thành phố Hồ Chí Minh, và do Tân Sắc, cán bộ văn hóa của Cộng Sản, viết lời giới thiệu.
Vậy ông hãy nghĩ xem: Việc ông mời hai "học giả" Cộng Sản sang đây làm việc trong 4 năm (kể từ tháng 9/2000 đến 9/2004) để viết về người Việt tị nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới, với sự tài trợ của Rockefeller Foundation, sẽ bị phản ứng mạnh đến chừng nào của tập thể hơn 2 triệu người Việt tị nạn?
Sự phản đối của cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản đối với việc làm sai lầm của ông và ban lãnh đạo WJC, không chỉ đơn giản trong việc mời 2 học giả cộng sản sang làm việc cho dự án "Rockefeller Foundation Humanities Fellowship -- UMass Boston Program Plan), mà đây là sự phản đối với ý nghĩa sâu rộng hơn, mang tính chất Nhân Quyền! Bởi vì các ông đã xúc phạm đến quyền lợi và danh dự của các cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản trên khắp thế giới.
Dòng văn học Việt Nam hải ngoại được hình thành và phát triển trong 25 năm qua (1975-2000) là bắt nguồn từ sự lưu vong của 2 triệu người Việt tị nạn cộng sản trên khắp thế giới, mà nguyên nhân gây ra thảm cảnh này là Đảng Cộng Sản Việt Nam! Do đó, người Việt tị nạn trên khắp thế giới không chấp nhận Cộng Sản Việt Nam nói thay cho họ là một cái quyền chính trị mà không ai có quyền tước đoạt. Việc ông mời 2 học giả Cộng Sản sang làm việc đánh giá, phê phán các tác phẩm văn học Việt Nam hải ngoại, để "giải thích và tái giải thích đặc trưng và vị trí của cộng đồng Việt Nam tị nạn trên khắp thế giới, mà không tham khảo ý kiến rộng rãi của giới nghiên cứu sử học và sáng tác văn học của cộng đồng người Việt hải ngoại trên thế giới là một hành vi vi phạm đến quyền lợi sở hữu tài sản văn hóa của tác giả (như luật bảo vệ quyền tác giả mà luật pháp Hoa Kỳ đã ban hành). Tác giả ở đây là tập thể hơn 2 triệu người Việt tị nạn Cộng Sản trên khắp thế giới.
Việc mời Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi, hai học giả Cộng Sản - thành viên của tập đoàn Cộng Sản Việt Nam, nguồn gốc gây ra cuộc lưu vong lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, là thành viên của tập đoàn Cộng Sản gây tội ác với dân tộc Việt Nam, với 2 triệu người Việt tị nạn trên khắp thế giới - đã chứng tỏ các ông, và đặc biệt là ông, tiến sĩ Kevin Bowen, giám đốc chương trình, và ông Nguyễn Bá Chung, người điều hành chương trình nghiên cứu Việt Nam (manage the Vietnam today program), đã xúc phạm đến danh dự của cộng đồng người Việt tị nạn trên toàn thế giới.
Người Việt lưu vong đang tị nạn trên khắp thế giới đã tạo ra một dòng văn học, hay nói rộng hơn là đã tạo ra một nền văn hóa Việt Nam hải ngoại, lẽ dĩ nhiên phải có một đội ngũ nghiên cứu và sáng tác có tài năng, không chỉ ở tầm cỡ quốc gia, mà còn ở tầm cỡ quốc tế, với những học vị khoa học đâu thua kém cộng đồng nào trên thế giới này.
Vậy mà, các ông không mời chính những người đã góp công xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hải ngoại để làm công việc đánh giá, phê phán những sản phẩm văn học Việt Nam hải ngoại, mà lại mời hai nhà văn Cộng Sản. Hành vi đó chứng tỏ các ông đã coi thường tài năng của giới trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam hải ngoại. Xin hỏi các ông có dám mở một cuộc đối thoại về văn học Việt Nam hải ngoại giữa 2 học giả Cộng Sản Việt Nam với giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam hải ngoại không?
Sau hết, chúng tôi muốn đề cập đến một nhân vật được coi là cố vấn mà cũng là tâm phúc của ông Giám Đốc chương trình - tiến sĩ Kevin Bowen. Theo chúng tôi, chính nhân vật này đã đề cử việc mời Hoàng Ngọc Tiến và Nguyễn Huệ Chi!
Ông Nguyễn Bá Chung là nhân viên nghiên cứu của WJC, và theo sự giới thiệu của WJC thì ông là "nhà văn, nhà thơ và dịch giả" (Nguyen Ba Chung is a writer, poet and translator). Nhưng thật ra danh tiếng của ông này trong văn giới Việt Nam hải ngoại hầu như bị "mai danh ẩn tích" từ nơi nào, chả ai biết đến. Hay đó chỉ là cái danh mà không có thực?
Cũng theo giới thiệu của tiến sĩ Kevin Bowen, thì Nguyễn Bá Chung còn là "cử nhân văn chương Mỹ của Đại Học Sài Gòn vào năm 1970" (He received a bachelor's in American literature from the University of Saigon in 1970) và là tiến sĩ văn chương Mỹ của Đại Học Brandies vào năm 1974 ( and a master in American literature from Brandies University in 1974).
Như vậy, rõ ràng Nguyễn Bá Chung là một trí thức có học vị tiến sĩ của Hoa Kỳ. Nhờ đó ông mới có khả năng, như ông Kevin Bowen đã giới thiệu là viết tiểu luận (essays) và dịch cho các báo Vietnam Forum, New Asia Review, Compost, The Nation, Manoa, Boston Review. Nhưng đặc biệt là nhà dịch giả Nguyễn Bá Chung đã dịch những tác phẩm văn học khá nổi tiếng của các nhà văn Cộng Sản để truyền bá trong các cộng đồng người Việt hải ngoại theo chủ trương "giao lưu văn hóa" của Cộng Sản Việt Nam.
Và đây là thành tích của ông Nguyễn Bá Chung trong việc thực hiện chủ trương "giao lưu văn hóa" của Cộng Sản Việt Nam tại hải ngoại:
- Dịch tác phẩm "Thời Xa Vắng" (A Time Far Past) của Lê Lựu
- Đồng chủ bút (co-editor) cho tập "Tuyển Tập Thơ Chiến Tranh 1948-1993". có tên tiếng Anh là "Mountain River: Vietnamese Poetry from the Wars 1948-1993", ...
Ông Nguyễn Bá Chung với nhiệm vụ chính trong tư cách nhân viên nghiên cứu của WJC, đã đảm trách "điều hành chương trình Việt Nam Ngày Nay" và "chương trình tổ chức cho sinh viên UMass Boston đi du lịch (giao lưu) với Đại Học Huế ở Việt Nam vào mỗi mùa hè" (He manages the Vietnam Today Program, a UMass Boston study/travel program organized every summer with Hue University in Vietnam).
Ông Nguyễn Bá Chung, một con người có quá trình hợp tác giao lưu văn hóa với Cộng Sản như vậy, đã bị cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại phản đối và lên án là "một thành viên trong chiến dịch kiều vận của Hà Nội", như Việt Báo Online ngày 16-8-1999 công bố là lẽ tất nhiên. Ông tiến sĩ Kevin Bowen và toàn Hội Đồng lãnh đạo của WJC và UMass Boston có biết chân tướng này của ông Nguyễn Bá Chung hay không?
Phải chăng ông Nguyễn Bá Chung chính là đầu mối ở Hoa Kỳ liên lạc với Hà Nội để nặn ra cái chương trình nghiên cứu gọi là "giải thích và tái giải thích...". Đã giải thích rồi, tại sao lại "tái giải thích"? Rõ ràng điều đó bao hàm ý muốn phủ nhận những thành tựu của dòng văn học chống Cộng của cộng đồng người Việt tị nạn trên thế giới. Tái giải thích cũng có nghĩa là giải thích những thành tựu văn học của người Việt hải ngoại theo quan điểm của đảng Cộng Sản Việt Nam, qua sự lèo lái của Nguyễn Bá Chung và hai nhà văn Cộng Sản là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi. Ông tiến sĩ Kevin Bowen có nhìn thấy tầm xa của ẩn số này không?
(xin đọc tiếp phần 2)
-- (tosu_cs@yahoo.com), September 11, 2004.
o0oTiếp theo phần trên)
Tóm lại: Trung Tâm William Joiner Center/ UMass Boston đã xúc phạm đến quyền lợi và danh dự của toàn thể cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản trên khắp thế giới.
Việc xúc phạm này không thể tồn tại và tiếp tục phát triển, mà phải chấm dứt ngay bằng cách: không được mời hai nhà văn Cộng Sản Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi. Không để cho ông Nguyễn Bá Chung, người đã công khai hợp tác với Cộng Sản Việt Nam, đảm trách điều hành chương trình nghiên cứu "(Re) construction Identity and Place in Vietnamese Diaspora".
Chúng tôi tán thành chương trình nghiên cứu của các ông. Trí thức và văn giới Việt Nam hải ngoại sẵn sàng góp sức với các ông hoàn thành chương trình này, nếu các ông muốn.
Chúng tôi kêu gọi lương tâm trí thức và tinh thần nhân bản của các dân tộc, đặc biệt là nhân dân Hoa Kỳ, hãy ủng hộ quyền lợi và danh dự chính đáng của toàn thể cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản trên toàn thế giới. Xin chân thành cảm ơn!
Massachusetts, ngày 20 tháng 7 năm 2000
Lê Tùng Minh
o0o
LTS: Bài Viết Thứ Hai Liên Quan Đến Trung Tâm William Joiner của nhà văn Lê Tùng Minh.
Trong bức thư phúc đáp cho ông Kim Âu Hà Văn Sơn, chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Chính Nghĩa ở Georgia, đề ngày 1 tháng 8/2000, ông Kevin Bowen, Giám đốc Trung Tâm William Joiner đã đưa ra một kết luận có tính cách khẳng định rằng: "Cho ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi là nhà văn Cộng Sản là chụp mũ, là vô căn cứ và thiên lệch" (Nguyên văn: To label these scholars as communist writers is simply uniformed and biased).
Xin hỏi ngài Giám đốc Trung Tâm William Joiner rằng ông đã căn cứ vào đâu mà bào chữa cho ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi không phải là Cộng Sản? Nếu chỉ căn cứ theo những lời minh chứng của ông trong bức thư phúc đáp (đã dẫn) thì hoàn toàn không hợp lý và vô căn cứ, mang tính chất che đậy sự thật về phẩm chất chính trị cộng sản của hai học giả Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi!
1. Về Hoàng Ngọc Hiến, ông minh chứng rằng, là "một đồng chủ bút của tạp chí Việt Nam do trường Đại Học Yale bảo trợ, đã đóng vai trò có ý nghĩa trong tiến trình Đổi Mới ở Việt Nam, và được coi là một nhà phê bình có ảnh hưởng nhất trong thời đại của ông ta" (a co-editor of the Yale University - sponsored Vietnam Review, has played a
significant role in the Renovation process in Vietnam, and is considered one of the most influential critics of his time). Điều đó chỉ minh chứng khả năng làm báo và nghiên cứu phê bình văn học của ông Hoàng Ngọc Hiến mà thôi. Nhưng đâu có thể chứng minh ông Hiến không phải là một học giả cộng sản. Vấn đề đặt ra ở đây là ông Hoàng Ngọc Hiến có phải là học giả cộng sản hay không (Chớ không phải ông Hoàng Ngọc Hiến có tài năng hay không)? Ông Kevin Bowen không có căn cứ để chứng minh rằng Hoàng Ngọc Hiến là "học giả không cộng sản". Chúng tôi nói ông Hoàng Ngọc Hiến là học giả cộng sản là hoàn toàn có căn cứ. Vì sao? Vì ông Hoàng Ngọc Hiến đã là đảng viên Cộng Sản từ những năm 70, và đang giữ chức vụ Giám Đốc Học Viện Nguyễn Du (Trường đào tạo viết văn theo ánh sáng chủ nghĩa Marx Lenine), đồng thời là đảng ủy viên của Học Viện (theo sự tiết lộ của nhà thơ Hoài Vũ, nguyên Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh).
2. Về Nguyễn Huệ Chi, ông Kevin Bowen minh chứng rằng, "là một học giả dân tộc nổi tiếng, vì ông là người đã có công cống hiến nhiều nhất cho bộ sách 3 tập Thơ Văn Lý Trần (thơ và văn đời Lý Trần), một phát hiện bất ngờ và lần đầu tiên khai triển sự phong phú và ý nghĩa một cách có hệ thống của nền văn học Lý Trần (a national scholar most noted for being the chief contributor to the massive 3-vol Tho Van Ly Tran - Poetry and Prose of Ly Tran dynasties - an eye-opening and ground-breaking work making available systematically for the first time the wealth and significance of the Ly-Tran literature). Điều đó chỉ chứng minh tài sưu tập, nghiên cứu và biên khảo văn thơ thời phong kiến Việt Nam của ông Nguyễn Huệ Chi, chớ không chứng minh được ông Chi không phải là đảng viên cộng sản! Chúng tôi nói Nguyễn Huệ Chi là một học giả cộng sản là có căn cứ xác thật rằng ông đã là đảng viên cộng sản sau năm 1975, và đang là Trưởng Ban Lý Luận và Phê Bình Văn Học của Viện Văn Học Hà Nội (Theo sự tiết lộ của Nguyễn Hoài, Viện phó Viện Thông Tin Khoa Học Xã Hội - Hà Nội).
Để trả lời câu hỏi đã đặt ra cho ông Kevin Bowen (ở trên), chúng ta có thể kết luận như sau: Ông Kevin Bowen đã bào chữa vô căn cứ về bản chất "không cộng sản" của Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi. Ông đã hồ đồ cho rằng những ai đã coi Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi là "nhà văn cộng sản" tức là chụp mũ "vô căn cứ và thiên lệch". Chúng tôi đề nghị ông Kevin Bowen phải rút lại lời nói đó và xin lỗi những ai đã bị ông xúc phạm.
Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi là học giả cộng sản 100%, không thể chối cãi! Vấn đề có thể xét lại, nếu hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi dám đứng ra tuyên bố với báo chí quốc tế rằng họ đã ly khai Đảng Cộng Sản Việt Nam và từ bỏ chủ nghĩa Marx Lenine và tư tưởng Hồ Chí Minh! Còn nếu, hai học giả đó vẫn kiên trì chủ nghĩa Marx Lenine và tư tưởng Hồ Chí Minh, vẫn là đảng viên trung thành với sự lãnh đạo của Đảng CSVN, thì toàn thể cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản trên khắp thế giới, nhất định không chấp nhận họ để "giải thích và tái giải thích đặc trưng và vị trí của cộng đồng Việt Nam tị nạn trên thế giới".
Ngoài cái cớ về tài năng, ông Kevin Bowen còn viện thêm cái cớ "học giả chân chính và độc lập" để bào chữa cho Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi. Thật vậy, trong thư phúc đáp cho ông Kim Âu Hà Văn Sơn (đã nêu trên), ông Kevin Bowen đã khẳng quyết rằng: "Mỗi người dự tuyển phải được đánh giá tài năng của chính họ như là một học giả chân chính và độc lập" (Each candidate is judged on his or her own merit as a serious and independent scholar). Điều này cũng có nghĩa là ông Kevin Bowen đã thừa nhận hai học giả cộng sản nói trên là những "học
giả chân chính và độc lập". Vậy, xin hỏi ông Kevin: Thế nào là "chân chính và độc lập"? Theo chúng tôi hiểu, một học giả chân chính là một học giả đã đem những kiến thức của mình để phục vụ cho nhân loại một cách vô tư, không cần danh lợi, không phục vụ cho bất cứ một đảng phái chính trị nào hay một giai cấp thống trị nào; và luôn luôn đứng về phía chính nghĩa, cũng như tham gia vào công cuộc đấu tranh chống các chế độ độc tài chuyên chế, góp sức xây dựng một nền dân chủ thật sự cho các dân tộc đang còn bị áp bức trên trái đất này. Và nếu làm được như vậy, thì người học giả đó mới giữ được tư cách độc lập của một con người chân chính; bởi vì họ không bị lệ thuộc, không bị chi phối bởi một thế lực nào muốn khống chế họ. Họ hoàn toàn tự do làm việc và phát biểu chính kiến của họ theo lương tâm chân chính của họ. Nếu theo đúng định nghĩa trên đây về "một học giả chân chính và độc lập" thì hai học giả cộng sản Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi chắc chắn là không đạt. Bởi vì, là đảng viên Cộng Sản nhất định họ phải phục tùng sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng CSVN trong bất cứ công tác nghiên cứu và phê bình văn học nào của họ. Do đó, không có sự chấp thuận của Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng, họ không có quyền hợp tác làm việc với Trung Tâm William Joiner! Cho nên, quan điểm nghiên cứu và phê bình văn học phục vụ cho chuyên đề "Giải thích và tái giải thích đặc trưng và vị trí của cộng đồng Việt Nam tị nạn trên thế giới" của hai học giả cộng sản Hoàng Ngọc Hiển và Nguyễn Huệ Chi phải theo sự chỉ đạo của Ban Văn Hóa Tư Tưởng của Trung Ương Đảng CSVN. Ông Kevin Bowen chắc cũng đã biết cái gọi là "chính sách vận động Việt Kiều" của Đảng CSVN, đang thực hiện rầm rộ từ đầu năm 2000 đến nay. Vì vậy, việc Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng chấp thuận cho hai cán bộ đảng làm công tác văn hóa văn nghệ là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi sang hợp tác làm việc với Trung tâm William Joiner thuộc Viện Đại học Boston, Massachusetts, USA cũng là làm công tác kiều vận, bởi lẽ tiểu bang Massachusetts là một trong số những tiểu bang có đông người Việt Nam tị nạn Cộng Sản định cư. Từ lâu, Ủy Ban Người Việt Nước Ngoài trực thuộc Trung Ương Đảng CSVN đã chọn Boston làm mục tiêu thứ ba (sau California và vùng Washington D.C) để đánh phá các lực lượng yêu nước, không chấp nhận Cộng Sản của người Việt ở vùng Đông Bắc Mỹ. Rõ ràng, vô tình hay cố ý ông Kevin Bowen đã tiếp tay cho Đảng CSVN tung người
đến hoạt động ở tiểu bang Massachusetts một cách công khai hợp pháp. Thực chất, việc Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi đến Đại học Umass Boston vào đầu tháng 9 năm 2000 là một thắng lợi kiều vận của Đảng CSVN, mà ông Nguyễn Bá Chung là người có công đầu với Đảng CSVN trong việc làm bàn đạp để thực hiện chính sách kiều vận ở vùng Đông Bắc Mỹ. Như vậy, cuộc đấu tranh chống việc mời hai học giả cộng sản của Trung Tâm William Joiner còn là cuộc đấu tranh chống sự xâm nhập của cán bộ kiều vận của CSVN vào trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, trước hết là cộng đồng Việt Nam tị nạn Cộng Sản ở tiểu bang Massachusetts và toàn vùng New England.
Chúng tôi mong rằng các hội đoàn, các đoàn thể chính trị, tôn giáo và văn hóa xã hội của cộng đồng người Việt ở trên toàn liên bang Hoa Kỳ hãy đồng tâm hiệp lực lên tiếng, phát động một phong trào quần chúng đấu tranh bảo vệ quyền lợi và danh dự của cộng đồng người Việt tị nạn trên toàn thế giới, qua việc làm sai trái của Trung Tâm William Joiner.
Massachusetts, August 15th 2000
Lê Tùng Minh
-- (tosu_cs@yahoo.com), September 11, 2004.
***Xin mời các anh KSBH, TDT, BACLIEU, LỎNG QUẦN :) KHAOkhatTURO, VN- Student, Vo_Danh, VN_QueHuongTa v.v.... và vân vân GÓP Ý
Đây là 1 đề tài có vụ kiện của các người CHỐNG CỘNG kiện WJC "chơi bựa"...
Nay quan tòa bác bỏ VỤ KIỆN WJC?!
-- So ?! The VIETCONG won ???? :) (ChuyenTriHOINACH@aol.com), September 11, 2004.
o My chiu. thua vu. nay` sao ???? hinh nhu giao su Luyen dang tien hanh` vu. kien nay` thi` phai.........toi dong y' day cung la` 1 hinh thuc' da~ cau^~ Vem bang` hanh` dong......instead of mucking around the web and dreaming
-- MA CO HO CHI MINH (MoiRoHoChiMinh@damtac.net), September 11, 2004.
Vụ kiện WJC này tôi cũng đã bỏ công nghiên cứu từ rất lâu 2năm từ khởi đầu vụ kiện và từ đó tôi dân thân vào đấu tranh chống cộng. Có thể nói nhân vật Nguyễn hữu Luyện làm tôi thay đổi lập trường từ 1 thằng ăn chơi xả láng sáng về sớm trở thành...trở thành gì nhỉ..?? Bây giờ đã là 12:39 đêm thứ bảy giờ Úc Châu.Về vai trò cũa đại úy biệt kích người tù kiệt xuất Nguyễn hửu Luyện tôi cũng được hân hạnh biết mặt, biết mặt thôi chứ chưa hân hạnh tiếp chuyện trong 1 hội trường ca 2000 người đi nghe anh ta nói chuyện. Tôi đã đứng từ xa thật xa nhin lên anh ngưởng phục. Trước đó tôi đã từng đọc tác phẩm "người tù kiệt xuất" cũa Phan Lạc Phúc và "Ðêm giữa ban ngày" cũa Vũ thư Hiên.
Trong vụ kiện WJC, có 2 thằng đảng viên VC được đại học mướn từ Hà Nội và 1 con nhỏ hỉ mũi chưa sach ngươì Mỹ gốc Việt không hề biết 1 chư tiếng Việt . Họ viết về toàn bộ nguyên nhân và đời sống cũa 3 trieu Viêt hải ngoại. Một việc làm nghe như trò hề. Ngay cả 1 thằng Viêt hải ngoại sống 22 năm ở Úc như thằng KSBH này mà còn mù mờ về tâm tư nguyện vọng cũa Viêt kiều thì 3 đưá ấm ớ đó biết cái đếch chó gì mà viết với lách về VK.???
-- Kẻ Sĩ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), September 11, 2004.
Ngu ở đâu ,thời đại nào cũng có ,đâu cũng có .Ngu cũng chia làm nhiều đảng cấp ,nhiều trình độ khác nhau ,có kẻ thật sự ngu ,có kẻ giả ngu ,có kẻ ngu vô tư ,ngu cố ý ,ngu giai đoạn ,ngu trường kỳ ,ngu vô tội vạ ,ngu hại người ,ngu có lợi ,ngu kín đáo ,ngu lộ liễu . . . .Nước tư bản tiền quyết định tất cả .Nước cộng sản ,độc tài thì quyền lực và tiền quyết định tất cả .
Năm 76-77 có 4-5 thanh niên VN ở quận Cam bi đếm từ 50 đến 100 cuốn lịch vì một con đĩ Mỹ thưa tội hiếp dâm .Luật sư biện hộ cho họ nói thẳng nếu không có tiền thì vô tù .
Vụ án O J ai cũng biết .Vụ án Peterson đang gay sôi nổi .Ai cũng biết bọn này nếu không tiền thì một đứa đã xanh nấm mồ ,một đứa lên ghế điện .
Việc kiện "William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusetts " Việt Nam thua vì không tiền mướn luật sư giỏi .Ai cũng biết vì cộng đồng Việt toàn những thằng tiếc 50 đôn đóng góp ,bằng chứng là vì 50 đôn mà nó chửi người ta suốt đời của nó ,đã vậy nó còn cổ động người khác chửi giùm .Cộng đồng VN bị chia năm sẻ bảy bởi bọn đó .
Sau năm 75 những bọn sâu bọ qua Mỹ lên làm người .Bằng chứng lá cờ VNCH có từ trước khi Bảo Đại ở truồng thế mà bây giờ tụi nó hô hào đó là cờ VNCH ,là cờ thua trận .Đòi đổi ,đòi thay ,đòi chế biến . . .
-- thich du thu (toollovers@comcast.net), September 11, 2004.
================(FWD)Memorandum
To: Members of the Vietnamese-American Community
From: Bradley S. Clanton
Date: September 9, 2004
Re: Status of Nguyen et ạl v. William Joiner Center
Ladies and Gentlemen of the Vietnamese-American Community:
As most of you know, we are the attorneys representing the Plaintiffs in the lawsuit against the William Joiner Center and the University of Massachusetts, Bostọn I am writing to update you on the status of the case
It is with great disappointment that I inform you that on August 27, 2004, the Judge granted the Universitýs Motion to Dismiss the Plaintíffs Second Complaịnt We believe the Judgés decision was inconsistent with Massachusetts law, as outlined in our opposition to the Universitýs Motiọn Accordingly, we plan to file an immediate appeal of the Judgés decision to the Massachusetts Court of Appeạls
In the Court of Appeals, cases are typically heard by a panel of three judgẹs The first step will be to file a document known as a "Notice of Appeal," which merely notifies the Court and the Đefenants of our intent to appeạl Then, we will file a brief with the Court of Appeals outlining our arguments against the Judgés decision dismissing the Complaịnt The University will then file a brief in response, followed by our replỵ The case will then be set for oral argument before the panel of judgẹs The appeals process is not a speedy one, and we anticipate that it could take from six months to a year for the case to be đeciẹ In adition, it is often difficult to persuade the Court of Appeals to reverse the decision of the lower coụrt Yet, we will strive mightily to do just thạt
I understan that this is a disappointing decisiọn However, please be sure that we will vigorously pursue the appeạl Please do not hesitate to contact me if you need aditional informatiọn
-----
BẢN DỊCH VĂN THƯ ĐỀ NGÀY 1 THÁNG 9 NĂM 2004 CỦA
TỔ HỢP LUẬT SƯ BAKER DONELSON
VỀ VU. KIỆN CỦA ÔNG NGUYỄN VÀ CÁC NGUYÊN ĐƠN KHÁC
CHỐNG WILLIAM JOINER CENTER
Kính thưa Quý Vị trong Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt,
Như hầu hết quý vị đã biết, chúng tôi là những luật sư đại diện cho các Nguyên Đơn trong vụ kiện chống lại William Joiner Center và trường Đại Học Massachusetts Bostọn Tôi xin cập nhật tình trạng của vụ kiện để quý vị rọ
Chúng tôi rất thất vọng phải thông báo với quý vị rằng ngày 27 tháng 8 năm 2004, [bà] Chánh Aùn đã chấp thuận Thỉnh Nguyện Thư của bị cáo xin bác bỏ Văn Bản Khởi Tố được tu chính lần thứ hai của Nguyên Đợn Chúng tôi tin rằng phán quyết của Chánh Aùn không phù hợp với luật pháp của tiểu bang Massachusetts, như đã phác thảo để phản đối Thỉnh Nguyện Thư của trường đại học Theo đó, chúng tôi phải kháng cáo ngay phán quyết của Chánh Aùn lên Toà Phúc Thẩm của tiểu bang Massachusẹtts
Nét đặc thù của Toà Phúc Thẩm là các vụ án được thụ lý bởi ba vị chánh ạn Giai đoạn đầu là đệ nạp “Thông Báo Chống Àun” trong đó chỉ báo cho Toà Án và bị cáo biết chúng ta quyết định chống ạn Sau đó chúng ta sẽ đệ trình văn bản ngắn gọn lên Toà Phúc Thẩm để phác thảo các luận điểm chống phán quyết của Chánh án đã bác bỏ vụ khởi tộ Tiếp theo là trường Đại Học sẽ đệ nạp văn bản ngắn gọn để phản biện, và đến lượt chúng ta trả lời họ Cuối cùng là vụ án sẽ được điều trần trước cả ba vị Chánh Aụn Quá trình chống án không thể xúc tiến nhanh được, và chúng tôi dự tính trước là vụ chống án có thể kéo dài từ nửa năm tới một năm để quyết định vụ ạn Hơn nữa, thông thường thuyết phục Toà Phúc Thẩm lật ngược lại quyết định của toà dưới là một việc khó khặn Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng một cách mãnh liệt để thực hiện điều đọ
Tôi hiểu rằng đây là quyết định làm cho chúng ta thất vọng Tuy nhiên, xin quý vị tin chắc là chúng tôi sẽ theo đuổi việc chống án một cách quyết liệt Nếu quý vị muốn biết thêm tin tức, xin đừng ngần ngại liên lạc với chúng tôi
&&&
JM BSC 269704 vl 2850586 – 000001 09/09/2004
-----
TƯỜNG TRÌNH PHIÊN HỌP TẠI TỔ HỢP LUẬT SƯ BAKER DONELSON
NGÀY 8 THÁNG 9 NĂM 2004
& & &
Kính thưa Quý Vị,
Ngày 27 tháng 8 năm 2004, bà Chánh Aùn Janet Sanders đã ban hành quyết định bác bỏ vụ khởi tố Trung Tâm William Joiner thuộc trường Đại Học Massachusetts Boston. Phán quyết của Chánh Aùn Janet Sanders đã gây xúc động mạnh mẽ trong lòng người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sạn Có những quý vị cảm thấy chán nản, thất vọng, bất bình với với phán quyết này, có những quý vị đã từng bỏ công nghiên cứu vụ kiện từ lâu, thúc giục chúng tôi nhanh chóng chống án và theo đuổi vụ kiện đến cụng
Đọc qua phán quyết, nhất là đọc nguyên bản Anh ngữ, ai cũng phải ngạc nhiên tự hỏi, vì sao có thể có một phán quyết để bác bỏ một vụ kiện lớn với nhiều sai lầm như vậy Chúng tôi xin thưa vắn tắt rằng cộng đồng chúng ta không thua, và vụ kiện WJC chưa kết thục Trong giai đoạn này, chúng ta cần bình tĩnh để khỏi bị mê hoặc bởi những phần tử bất lương, đang hoảng sợ trước sức mạnh của cộng đồng nên tìm mọi cách để tách vụ kiện WJC ra khỏi bàn tay yểm trợ của cộng đồng nhằm bóp chết vụ kiện này để bảo vệ công trình của chúng là xây dựng lại căn cước tỵ nạn Cộng Sản của chúng ta hầu mong lường gạt hậu thệ
Ngày 8 tháng 9 năm 2004, chúng tôi gồm có 3 nguyên đơn là các ông Bùi Diễm, Nguyễn Đình Tú, và Nguyễn Hữu Luyện, đại diện cho cả nhóm nguyên đơn đã họp bàn với hai Luật Sư James Duff va Bradley Clanton tại Văn Phòng của Tổ Hợp Luật Sư tại Washington DC Kết quả của buổi họp này là:
1. Tổ Hợp Luật Sư Baker Donelson sẽ chống án ngay.
2. Tổ Hợp Luật Sư ra văn thư xác nhận phán quyết của Chánh Aùn Janet Sanders không phù hơp với luật pháp của tiểu bang Massachusẹtts
3. Mặc dù chống án là một quá trình rất đắt tiền, nhưng Tổ Hợp Luật Sư Baker Donelson đã chia sẻ những khó khăn của cộng đồng trong giai đoạn này nên đã xúc tiến nhanh chóng việc chống án, và sẽ thanh toán khi hoàn tất công việc
Vụ kiện này còn đang tiếp diễn với nhiều thuận lợi khi đưa lên toà trên, và từ nay, vụ kiện WJC sẽ thuận buồm suôi gió để đi đến thắng lợi cuối cụng Khi các thành viên của cộng đồng đã vững niềm tin vào chính nghĩa, vào hành động chân chính của chúng ta, thì mọi âm mưu đánh phá của Viet Cộng và chân tay của chúng đang lẩn khuất trong cộng đồng cũng chỉ là những tiếng kêu vô ích mà thội
Kính chúc quý vị an khang và hạnh phục
Kính thư
Nguyễn Hữu Luyện
Đại Diện Nhóm Nguyên Đơn
-----
-- Just FWD .... :) (ChuyenTriHOINACH@aol.com), September 11, 2004.
Lấy quan điểm cá nhân ra, tôi nghĩ rằng chúng ta chỉ cần vô hiệu hoá những công trình nghiên cứu của họ là được rồi vì chúng ta dẩn chứng ra nó không thực hiện 1 cái có khoa học. Người thực hiện không có đủ trình độ và nhận thức cũng như không có kinh nghiệm tị nạn cộng sản cũng như kinh nghiệm di dân thì đống tài liệu đó chẳng qua là những tờ giấy vụn. Nếu kiện thì có thể kiện họ không công bằng trong việc thuê tuyển nhân viên nghiên cứu, đồng thời cũng có thể kiện họ mượn đảng viên cộng sản 1 cái trái phép vi phạm luật của tiểu bang MASS.Còn kiện về nội dung của tài liệu tôi nghĩ nó hơi khó. Ở xứ sở tự do mà tự do ngôn luận là quyền của mọi người. Họ có quyền viết theo quan điểm của họ còn những người khác sẻ tự có đánh giá đúng đắn khi đọc. Cho dù WJC có viết lại và ca ngợi tiểu sử Hồ Chí Minh thì chúng ta cũng không thể kiện bắt họ không được viết nữa. Chúng ta chỉ còn biết sử dụng quyền biểu tình và phản đối của mình giống vụ Trần Trường làm cho họ bị thiệt hại về $$$ lúc đó thì có thể họ sẻ từ bỏ tài liệu và những công trình sai lệch của họ.
Vài ý kiến của cá nhân nghĩ sao nói vậy.
-- Nguoi Tranh Dau (nguoitranhdau@hotmail.com), September 11, 2004.
Chuyện dễ thôi ,chuyện bên Mỹ mà ,đại học "A" viết về đề tài "X" bởi ông tiến sĩ "a" ,bỏ tiền ra thì sẽ có đại học "B" viết về đề tài "X" bởi ông tiến sĩ "b,c,d" ai viết giỏi hơn thì nhiều người đọc thế thôi .Câu chuyện đơn giản nhưng rất khó vì một thằng có thiện tâm ,trăm thằng đánh phá vì nắm sôi của cộng sản ,hoặc chỉ để tự đánh bóng .
Hãy nhìn thằng Tây ,nó phản đối Mỹ đánh Iraq đến khi Mỹ thắng nó đòi nhảy vô chia phần .Chính vì vậy khi đó hộ VN 100 năm nó đã tạo đưọc một mớ con lai ,giống này di hại tới bây giờ ,ai làm gì tốt cho tập thể thì tụi nó phá đám ,lúc thành công thì nó nhảy vô thụ hưởng như thằng trung tướng Trần văn Đôn (nó có quốc tịnh Tây)và một vài người trong forum này ai ai cũng biết .Bây giờ 2 thằng Tây nhà báo bị bắt ,thằng TT Tây không biết phải làm sao .
-- thich du thu (toollovers@comcast.net), September 11, 2004.
ong Luyen va` dong nghiep co' set up 1 account de moi nguoi` ai co' long` hao tam de ung ho .......luc truoc ong co' qua Uc' noi chuyen va` de tranh truong hop bi. boi ban.....account do' khong thuoc quyen so huu cua ongBTW mac du` la' co vang co' tu thoi truoc Bao dai hay gi` gi` di chang nua....nhung 1 dieu buon cuoi rang` lu Vem dit do chung' no' cu' nhap la co vang` voi' che do "bu` nhin` VNCH"......chung' no' lay la' co vang` may quan ta` lon~ mac. da' banh truoc mat. cac' nguoi` tu` cai tao........va` la' co vang` duoi thoi Bao Dai khong dai dien cho mien nam VN tu do ......no' dai dien cho 1 nuoc VN thuoc Phap' .......va` mac du` che do VNCH co' nhung thanh` phan thoi nat' xoi thit. bam' dit' Tay di chang nua.........cong suc xuong mau' cua nhung~ nguoi linh' VNCH da do mau' cho la' co` vang duoi che do VNCH de co' nhung nguoi Viet tu do chia 5 se 7 ngay` hom nay .....khong phai la` nho~
-- Ho Chi Minh Ma Co (MoiRoHoChiMinh@damtac.net), September 11, 2004.
=========(FWD)Saigon Nhỏ ngày 10.9.2004
Tú Gàn
Kết thúc vụ án WJC
Hôm 27.8.2004, Tòa Superior Court ở Boston đã đưa ra phán quyết tuyên bố bác bỏ đơn kiện William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusetts của ông Nguyễn Hữu Luyện và những người khác, kết thúc một vụ kiện khá ồn ào.
Trong 29 năm tỵ nạn, đây là vụ kiện lớn lối vào bậc nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại tại Hoa Kỳ. Nó được phát động dựa theo cảm tính và “định hướng chống cộng” với sự xác tín “ta nhất định thắng, địch nhât địch thua”. Vì thế, ít ai dám đụng đến nó, ngoại trừ vỗ tay hoan hô.
Nguyên nhân đưa đến vụ kiện này là năm 2000 William Joiner Center thuộc Viện Đại Học Massachusetts, Boston, đã tuyển hai nhà nghiên cứu Việt Nam từ Hà Nội đến Boston tham gia “Chương trình Rockefeller Nghiên cứu về Người Việt Hải ngoại” (Rockefeller Program on the Study of the Vietnamese Overseas). Đề tài nghiên cứu là “Tái Cấu Trúc Đặc Trưng và Vị Trí trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn (Reconstructing Identity and Place in the Vietnam Diaspora). Chi phí do Trustee Rockefeller Foundation đài thọ. Hai người được mời là Hoàng Văn Hiến và Nguyễn Huệ Chi. Hoàng Văn Hiến là Giám Đốc Học Viện Nguyễn Du ở Hà Nội và Nguyễn Huệ Chi là Trưởng Ban Lý Luận và Phê Bình Văn Học của Viện Văn Học Hà Nội.
Đây chẳng qua cũng chỉ là một một phần trong chiến thuật “diễn biến hòa bình” của Hoa Kỳ, do một tổ chức tư nhân đài thọ và thực hiện. Nhưng ông Nguyễn Hữu Luyện ở Boston và một số người cho rằng việc thuê mướn hai cán bộ Việt Cộng này nghiên cứu sẽ cung cấp những tài liệu không chính xác về cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, có thể đưa tới một chính sách sai lầm đối với người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Vì thế, ông hô hào kiện William Joiner Center và Viện Đại Học Massachusetts để loại hai tên này ra. Dân ta vổ tay hoan hô ào ào và đóng góp cũng rất chí tình cho ông đi kiện.
Theo một nguyên tắc căn bản của luật pháp, muốn đi kiện phải có tố quyền (action) được luật pháp công nhận mới khởi tố được. Một bà bị chú Chánh gạt tình không thể đi kiện được, vì trong luật không có tố quyền khiếu nại về gạt tình, nên chú Chánh tha hồ gạt. Con mồi nào dại thì ráng chịu. Trong luật chỉ có tố quyền khiếu nại vì bị gạt tiền mà thôi. Vậy trong vụ này, phải dựa vào tố quyền nào để đi kiện William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusetts? Sau khi bàn hỏi với luật sư, ông Luyện quyết định đi kiện vì bị kỳ thị về việc làm (employment discrimination) chiếu theo điều luật G.L.c. 151B.
Thú thật, khi đọc đơn khiếu nại của ông Luyện nạp tại Uûy Ban Chống Kỳ Thị Tiểu Bang Massachusetts (Massachusetts Commission Against Discrimination) Tú Gàn không tin ông sẽ thắng. Tú Gàn có chuyển đơn này cho một số luật sư xem, họ cũng đều lắc đầu. Nhưng đây là vụ kiện dựa theo cảm tính và “định hướng chống cộng” với sự xác tín “ta nhất định thắng, địch nhất định thua” nên ông Luyện không muón ai có ý kiến ngược lại, ông chỉ muốn những tiếng vỗ tay. Vì thế, những người hiểu biết không ai muốn lên tiếng.
I.- SƠ LƯỢC VỤ KIỆN
Trước khi đọc toàn văn bản dịch của bản án được đăng lại dưới đây, chúng tôi xin tóm lược nội vụ để độc giả dễ theo dõi hơn.
Theo nguyên tắc, muốn kiện kỳ thị về việc làm, trước hết phải khiếu nại tại cơ quan hành chánh. Khi quyết định của cơ quan này không làm ta thỏa mãn, mới có thể đưa nội vụ ra trước tòa án.
Ngày 27.10.2000 ông Luyện nộp đơn tại Ủy Ban Chống Kỳ Thị Tiểu Bang Massachusetts (Massachusetts Commission Against Discrimination viết tắt là MCAD) khiếu nại William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusetts có sự kỳ thị trong việc làm và xin bồi thường thiệt hại. Đến ngày 25.4.2001, ông Luyện lại tìm cách tu chính đơn khiếu nại này để được khiếu nại dưới hình thức một tố quyền tập thể (class action). Có 11 người được ghi danh thêm vào. Ngày 23.5.2001, MCAD đã bác bỏ đơn thỉnh cầu tu chính này. Ngày 23.9.2001, MCAD bác bỏ luôn đơn khiếu nại của ông Luyện vỉ cho rằng thiếu lý do chính đáng.
Ngày 29.10.2001, ông Luyện nộp đơn khởi tố trước tòa Superior Court ở Boston dưới hình thức tố quyền tập thể (class action). Trong thời gian tranh tụng, ông Luyện nộp đơn thỉnh cầu Tòa ra án lệnh ngăn chận không cho Hoàng Văn Hiến và Nguyễn Huệ Chi tiếp tục nghiên cứu, nhưng tòa đã bác bỏ. Vụ kiện này kéo dài đến ngày 27.8.2004 Tòa mới đưa ra phán quyết bác đơn của các nguyên đơn với những lý do chính sau đây:
1.- Trong thời gian William Joiner Center công bố báo thị tuyển dụng nghiên cứu sinh, ông Luyện cũng như 6 người đứng đơn khiếu nại không hề nộp đơn xin việc. Các đương sự chỉ có thể khiếu nại bị kỳ thị về việc làm khi nào đã nộp đơn xin việc và bị bác vì cóï kỳ thị mà thôi.
2.- Ngoài ông Luyện ra, không có nguyên đơn nào khác nộp đơn khiếu nại tại cơ quan MCAD trước khi khởi tố trước Tòa như luật định, nên đơn khởi tố bị coi là bất hợp lệ.
3.- Các nguyên đơn cho rằng dù họ có nộp đơn cũng vô ích vì đơn họ rồi cũng sẽ bị bác. Nhưng Tòa cho rằng học thuyết về sự vô ích (futility) không được áp dụng cho trường hợp này vì không có bằng chứng nào để xác quyết như vậy.
4.- Các nguyên đơn cho rằng William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusetts chỉ cung cấp trợ cấp nghiên cứu cho những kẻ trung thành hay những kẻ có thiện cảm với chính quyền Cộng Sản Bắc Việt. Lập luận này đã bị Tòa phang khá nặng. Tòa nói: “Không có một án lệ nào yểm trợ cho kết luận rằng một nhóm xác định đặc tính chủ yếu bằng những sự tin tưởng về chính trị như họ đáng được một sự bảo vệ đặc biệt theo luật chống kỳ thị. Vì thế, buộc một định chế đại học phải chịu trách nhiệm vì họ không chịu tuyển chọn những người có quan điểm chống Cộng vào công việc nghiên cứu sẽ có một hậu quả ớn lạnh đối với định chế về các quyền của chúng ta trong Tu Chính Án Thứ Nhất.”
Kết quả: Tòa tuyên bố chấp nhận đơn của William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusetts và bác đơn của các nguyên đơn.
Sau đây xin độc giả chịu khó đọc bản dịch toàn văn bản án của Tòa. Bản án này trước tiên được báo Người Việt dịch ra và đăng trong số báo ngày 4.9.2004. Nhưng chúng tôi thấy bản dịch đó có nhiều chỗ dịch không chính xác nên đã dịch lại.
II.- NGUYÊN VĂN BẢN ÁN CỦA TÒA
Superior Court Department of The Trial Court.
Vụ kiện về Dân Sự số: 01-4507E, Luyện Hữu Nguyễn và những người khác chống William Joiner Center và Trường Đại Học Massachusetts, Boston.
BẢN LUẬN TRẠNG VỀ QUYẾT ĐỊNH VÀ ÁN LỆNH VỀ ĐƠN THỈNH CẦU BÁC ĐƠN CỦA CÁC BỊ ĐƠN
Đây là một tố quyền tố cáo về sự kỳ thị theo phương thức mà các bị đơn đã quảng cáo và tuyển lựa vào một số chức vụ được cấp trợ cấp nghiên cứu trong một chương trình khuyến khích nghiên cứu về bản sắc của người Việt trong thời kỳ hậu chiến tranh Việt Nam. Các nguyên đơn thừa nhận rằng họ chưa bao giờ nộp đơn xin vào các chức vụ này, nhưng trong một Bản Tu Chính Đơn Khởi Tố Lần Thứ Hai về ba vi phạm (counts), họ vẫn tố cáo những sự vi phạm các điều luật G.I.c. 151B và 151C. Nay các bị đơn nộp đơn xin bác bỏ Bản Tu Chính Đơn Khởi Tố Lần Thư Hai dựa theo Rule 12(B)(1) và 12(B)(6), MASS.R.CIV.P. Tòa án này phán quyết rằng Đơn Thỉnh Cầu phải được chấp nhận dựa trên những lý do sau đây:
QUÁ TRÌNH:
Bản Tu Chính Đơn Khởi Tố Lần Thư Hai đã đưa ra những sự viện dẫn về sự kiện mà tòa giả dụ là đúng sự thật với mục tiêu của Đơn Thỉnh Cầu này. Vào ngày 27 tháng 7, 1999, các bị đơn, Trung Tâm William Joiner Center (gọi tắt Là “Trung Tâm”) và Trường Đai học Massachusetts, Boston, (gọi tắt là “Trường Đại Học”), đã nhận được một khoản tiền tài trợ từ The Rockerfelller Foundation of New York để thực hiện chương trình có tên là “Cấu trúc về Bản Bắc và Vị Trí của Người Việt hải ngoại” nhằm nghiên cứu để thấy rõ “những cấu trúc khác biệt của bản sắc cộng đồng người Việt... đã được tạo hình và tái tạo hình như thế nào trong thời kỳ hậu chiến và hậu di cư đương thời qua các thế hệ” theo sau chiến tranh Việt Nam. Những nghiên cứu sinh này (these fellowships) là những chức vụ tạm thời (temporary positions) được tuyển chọn hàng năm. Những cá nhân được trợ cấp nghiên cứu (fellowships) được cung cấp một số tiện nghi như quyền được sử dụng thư viện của trường Đại Học và văn phòng do Trung Tâm cung cấp.
Các nguyên đơn đều là những người trên 40 tuổi và sinh trưởng tại miền Nam Việt Nam. Một số là sĩ quan trong Quân Lực VNCH trong thời chiến tranh Việt Nam. Một số là viên chức của miền Nam Việt Nam hoặc nhà giáo, hoặc nhà báo. Họ đều là di dân đến đất nước này sau ngày Sài Gòn sụp đổ và trong những năm kế tiếp. Luyện Hữu Nguyễn là nguyên đơn duy nhất cư ngụ tại Boston.
Vào ngày 4 tháng 1 năm 2000, Trung Tâm đã loan báo cho công chúng biết về những trợ cấp nghiên cứu được cung cấp. Trung Tâm đã làm như vậy bằng một bản thông tin báo chí và một lá thư; Trung Tâm cũng đã đăng quảng cáo trên hai tờ báo Việt ngữ là tờ Hợp Lưu và tờ Văn Học. Thời hạn chót để nộp đơn ghi danh là ngày 31.1.2000. Có bốn người được hưởng trợ cấp nghiên cứu. Nhóm này gồm có “hai thành viên được kết nạp vào Đảng Cộng Sản” đã nhập cư đến Hoa Kỳ từ Bắc Việt Nam. Một người “Mỹ gốc Á Châu dưới 40 tuổi”, và một người “Mỹ gốc Việt” dưới 40 tuổi.
Các nguyên đơn đã nhận được tin tức về trợ cấp nghiên cứu trước ngày 31.1.2000. Mặc dầu ông Nguyễn (Luyện Hữu Nguyễn), một nguyên đơn cư ngụ tại Boston, đã biết về chương trình này vào tháng 4/2000. Ông đã thông báo cho các nguyên đơn khác. Các trợ cấp nghiên cứu cũng được cung cấp cho các năm 2001 và 2002. Không người nào trong các nguyên đơn đã nộp đơn xin các chức vụ đó.
Vì Đơn Thỉnh Cầu Bác Bỏ này nêu lên những vấn đề pháp lý khác, nên cũng cần duyệt qua lịch sử tố tụng của vấn đề này. Vụ kiện bắt đầu với đơn khiếu nại nộp ngày 27.10.2000 tại Ủy Ban Chống Kỳ Thị Tiểu Bang Massachusetts. Đơn khiếu nại chỉ do một cá nhân đứng tên, nguyên đơn Nguyễn, và chỉ nêu ra một vi phạm (count) chống lại Trường Đại Học là có sự kỳ thị trong việc làm chiếu theo điều luật G.I.c. 151B. Ngày 25.4.2001, ông Nguyễn đã tìm cách tu chính đơn khiếu nại để tố quyền được tiếp diễn dưới hình thức một tố quyền tập thể (class action). Đơn thỉnh cầu được ghi dưới đầu đề “Bản Tu Chính về Sự Cáo Buộc về Kỳ Thị thành Tố Quyền được xem như là Tố Quyến Tập Thể”, trong đó có 11 nguyên đơn được thêm vào để được tiếp tục tố tụng dưới danh nghĩa “Cá nhân và Đại Diện của Tập Thể.”. Lời thỉnh cầu tu chính đơn khởi tố tại MCAD đã bị bác bỏ ngày 23.5.2001.
Vào ngày 23.9.2001, MCAD bác bỏ đơn khởi tố của ông Nguyễn sau khi thấy đơn kiện này thiếu lý do chính đáng. Ngày 29.10.2001, ông Nguyễn tiến hành tố quyền này, viện lý do bị kỳ thị trong việc làm chiếu theo điều luật G.I.c. 151B. Sau khi Tòa bác bỏ Đơn Thỉnh Cầu Duy Trì Tố Quyền Tập Thể và ông Nguyễn đã thay đổi luật sư sau tu chính Đơn Khởi Tố một lần nữa, ông ta đã thành công trong việc tu chính Đơn Khởi Tố lần thứ hai, vì thế được thêm vào những nguyên đơn và những vi phạm (counts) khác nữa. Trong vòng một tháng sau khi nhận được thông báo về sự tu chính, các bị đơn đã nộp một đơn thỉnh cầu khẩn cấp yêu cầu bác bỏ Bản Tu Chỉnh Đơn Khởi Tố Thứ Hai.
-- Just FWD ... :) (ChuyenTriHOINACH@aol.com), September 11, 2004.
========(Tiep theo)TRANH LUẬN:
Các nguyên đơn tố cáo rằng các hành động của các bị đơn “gồm thời hạn và phương thức quảng cáo, công bố và thông báo về các trợ cấp nghiên cứu, và việc đánh giá và lựa chọn những người nhận trợ cấp nghiên cứu, đã được thực hiện với ý định có tính toán, không thích hợp và bất hợp pháp để loại bỏ các thành viên của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trên 40 tuổi, kể cả các nguyên đơn.” (Bản Tu Chính Đơn Khởi Tố Thứ Hai, số 42). Bản Tu Chỉnh Đơn Khởi Tố Thứ Hai đòi hỏi phải bồi thường vì sự kỳ thị trong việc làm chiếu theo điều luật G.I.c. 151B, phát xuất từ một lý thuyết về sự đối xử phân biệt (vi phạm 1) cũng như lý thuyết về ảnh hưởng của sự phân biệt đối xử (vi phạm 2). Thêm vào đó, các nguyên đơn tố cáo về sự kỳ thị trong giáo dục, đòi hỏi bồi thường dựa theo điều luật G.L.c. 151C (vi phạm 3). Bởi vì họ là những người đã sinh trưởng tại miền Nam Việt Nam, trung tâm điểm vụ kiện của các nguyên đơn là chủ trương của họ rằng nguồn gốc quốc tịch của họ khác biệt với những người đến Hoa Kỳ tứ miền Bắc Việt Nam. Khi tuyển chọn những người có gốc rễ ở miền Bắc Việt Nam có liên hệ với chế độ Cộng Sản ở đó, các bị đơn đã kỳ thị bất hợp pháp đối với các nguyên đơn.
Bản Kháng Biện Luận về Luật lý (Memorandum of Law) của các bị đơn để yểm trợ cho Đơn Thỉnh Cầu của họ đã đưa ra nhiều lý lẽ để giải thích tại sao Đơn Thỉnh Cầu xin Bác Bỏ (đơn khởi tố) phải được chấp nhận. Không cần phải lặp lại tất cả những lý luận đó, Tòa chỉ lưu ý rằng những lý lẽ đó cung cấp những căn bản khác cho kết luận của Tòa rằng tố quyền đó không thể tiến hành xa hơn. Một số các lý luận đó không trực tiếp đề cập đến bản chất của các sự khiếu nại của các nguyên đơn, nhưng đã đưa ra những khiếm khuyết về thủ tục tố tụng. Thí dụ, ngoài ông Nguyễn ra, không có nguyên đơn nào khác nộp đơn khiếu nại với MCAD. Sự thiếu sót trong (việc xử dụng) phương thức sửa chửa hành chánh có nghĩa là Tòa này không có thẩm quyền tố tụng để thỏa mãn các khiếu nại đó của nguyên đơn chiếu theo điều luật G.L.c. 151B hay 151C [xem án lệ Charland v. Muzi Motors Inc., 417 Mass. 580, 583-586 (1994)]. Các bị đơn cũng đã đưa ra một vài lý luận về pháp lý biện hộ cho việc bác bỏ ít ra một số khiếu nại của các nguyên đơn. Vì vậy, các nguyên đơn đã nêu lên rằng điều luật G.L.c. 151C theo bản văn của nó, nhằm bảo vệ các “sinh viên” muốn được thu nhận vào một định chế giáo dục, cũng như bất cứ “cá nhân nào muốn được thu nhận vào một chương trình hay một lớp học để lấy một bằng cấp trên bậc cử nhân”. [xem G.I.c. 151C $2(a) và $2(d)]. Điều đó cũng được chấp nhận đối với các trợ cấp nghiên cứu, tuy nhiên, (trong nội vụ) không có sinh viên hay cá nhân nào muốn theo học một chương trình học để có bằng cấp trên bậc cử nhân. Do đó, vi phạm thứ ba (bi tố cáo) phải bị bác bỏ vì thiếu cơ sở pháp lý chiếu theo điều luật 151C.
Tuy nhiên, Tòa muốn xét Đơn Thỉnh Cầu của các bị đơn dựa vào khiếm khuyết căn bản hơn trong vụ của các nguyên đơn: không một người nào trong các nguyên cáo đã nộp đơn xin các chức vụ được hưởng trợ cấp nghiên cứu. Trong các yếu tố cấu thành bất cứ vụ kỳ thị nào chiếu theo điều luật G.L.c. 151B, là đòi hỏi rằng nguyên đơn phải nộp đơn xin chức vụ và không được tuyển chọn. [xem chẳng hạn như vụ Wynn & Wynn P.C. v. MCAD, 431 Mass. 655, 655, n22 (2000)]. Cũng vậy, theo điều luật G.L.c. 151C, các nguyên đơn phải xin và bị bác đơn thâu nhận vào một viện giáo dục hay một chương trình giáo dục. Trong nội vụ, phải công nhận rằng mặc dầu sau khi được thông báo về trợ cấp nghiên cứu vào mùa xuân năm 2000, không một người nào trong các nguyên đơn đã nộp đơn cho năm 2001 hay 2002, mặc dầu đơn đang được thâu nhận. Không có bất sự cáo buộc nào về việc các bị đơn đã làm bất cứ điều gì để làm nản lòng hay ngăn cản các nguyên đơn nộp đơn. Vì các bị đơn không bao giờ nhận được đơn của các nguyên đơn nên không có hành động có hại nào đối với họ, không có một khả năng nào có thể chứng tỏ rằng các bị đơn đã phân biệt đối xử với họ.
Nguyên đơn đã trả lời vấn đề này bằng cách viện lẽ rằng đáng lẽ họ đã nộp đơn trong năm 2000 nếu họ biết có trợ cấp nghiên cứu, nhưng phương thức quảng cáo chức vụ tự nó là kỳ thị. Còn về hai năm kế tiếp trong đó các trợ cấp nghiên cứu được ban cấp, các nguyên đơn lý luận rằng mặc dầu họ có biết về cơ hội được cấp trợ cấp nghiên cứu, nhưng vì lúc đó ông Nguyễn đã nạp đơn khiếu nại về kỳ thị tại MCAD, cho nên tất cả các nguyên đơn tin tưởng từ đó rằng bất cứ dự tính nộp đơn xin trợ cấp nghiên cứu nào cũng vô ích mà thôi. Tòa nhận thấy những lý luận này không có giá trị.
Trước tiên, về phương thức quảng cáo, chỉ có một sự kiện duy nhất được nại ra để hỗ trợ cho sự tố cáo rằng có sự cố ý kỳ thị là tờ thông báo về các chức vụ (được tuyển chọn) trong năm 2000 được luân chuyển bằng một thông cáo báo chí và một lá thư chỉ 26 ngày trước kỳ hạn, và chỉ được đăng tải trên 2 tờ báo Việt ngữ. Mặc dầu sự việc này đã bị tố cáo là đã vi phạm các điều khoản của Bản Dẫn Giải Chương Trình mà các bị đơn đã kết hợp lại (xem Bản Tu Chỉnh Đơn Khởi Tố Thứ Hai. *29 - 30), Tòa không nhận thấy rằng những sự kiện này có thể tạo thành sự kỳ thị bất hợp pháp được. Chắc chắn rằng phương thức (quảng cáo của bị cáo) không hề nêu lên bất cứ sự suy luận hữu lý nào về sự kỳ thị tuổi tác hay bằng cách thông báo đó các bị đơn đã dự tính hay đã gạt bỏ người Việt. Tờ thông báo đã được đăng trên hai tờ báo Việt ngữ. Thật ra, trong số những người được chấp nhận cho hưởng trợ cấp nghiên cứu trong năm 2000, có ba người là gốc Việt Nam.
Thứ đến, đây không phải là loại trường hợp mà học thuyết về sự vô ích (futility) được áp dụng. Học thuyết này trước hết được tuyên bố trong vụ International Brotherhood of Teamster v. United State [431 US. 324 (1977)], trong đó cho thấy có việc thực hiện sự kỳ thị tập thể rộng rãi trong việc (tuyển dụng người) lái xe với mục tiêu loại người da đen ra. Khi phúc thẩm quyết định của tòa dưới về việc nới rộng sự bồi thường thiệt hại cho các nguyên đơn đã không nộp đơn xin việc lái xe, Tối Cao Pháp Viện đã phán rằng ở đâu có một chính sách kỳ thị được thi hành nhắm loại trừ các dân tộc thiểu số, khi đó không có một “lằn răn cố định” (inexorable bar) trong việc bồi thường đối với một nguyên đơn cá biệt không can dự vào việc nạp đơn không hiệu quả của toàn thể. Bằng ví dụ đó, Tòa phán quyết rằng nếu một người chủ đã đưa ra một bảng hiệu nói rằng chỉ người da trắng mới nên nộp đơn, các nạn nhân của ông ta “không bị giới hạn trong một số ít người không biết đến cái bảng và chính cá nhân họ đã bị khước từ”. [Id. at 365]. Tuy nhiên, Tối Cao Pháp Viện đã hạn chế bớt chủ trương này bằng cách thêm rằng những người không nạp đơn phải chứng minh rằng họ đã nản lòng không nộp đơn xin việc chỉ vì có những sự thực hiện kỳ thị. Trong nội vụ, các nguyên đơn đã không nêu ra các sự kiện cho thấy có liên hệ nhân quả giữa chính sách hay sự thực hiện của các bị đơn với sự thất bại của họ trong việc nộp đơn để các bị đơn cứu xét. Hơn thế, họ còn viện dẫn rằng họ không nộp đơn vì tự họ tin rằng, với đơn khiếu nại của ông Nguyễn trước MCAD, tất cả họ sẽ bị bác đơn cho dù họ đủ điểu kiện đối với các chức vụ. Tòa không công nhận điều đó như một lý do đủ để miễn cho các nguyên đơn khiếu nại về sự kỳ thị khỏi phải nộp đơn xin việc và bị từ chối.
Sau cùng, trong vụ kiện của các nguyên đơn, cho dù để ra một bên sự thất bại nói trên, các nguyên đơn cũng thất bại trong mưu tính tự đặt họ vào trong một nhóm được che chở bời điều luật C.I.c. 151B hay 151C. Sự khiếu nại của họ không phải chỉ đơn giản rằng các bị đơn kỳ thị những người trên 40 tuổi hay rằng các bị đơn kỳ thị những người có tổ tiên là người Việt Nam. Hơn thế nữa, họ nói rằng các bị đơn đã cấp trợ cấp nghiên cứu cho những kẻ trung thành hay những kẻ có thiện cảm với chính quyền Cộng Sản Bắc Việt (nay là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, bao gồm cả Nam Việt Nam). Tuy nhiên, không có một án lệ nào yểm trợ cho kết luận rằng một nhóm xác định đặc tính chủ yếu bằng những sự tin tưởng về chính trị như họ đáng được một sự bảo vệ đặc biệt theo luật chống kỳ thị. Vì thế, buộc một định chế đại học phải chịu trách nhiệm vì họ không chịu tuyển chọn những người có quan điểm chống Cộng vào công việc nghiên cứu sẽ có một hậu quả ớn lạnh đối với định chế về các quyền của chúng ta trong Tu Chính Án Thứ Nhất.
KẾT LUẬN VÀ RA ÁN LỆNH
Vì tất cả những lý do đã nêu trên và vì các lý do đã được nêu ra trong Bản Kháng Biện Luận vềà Luật Lý của các bị đơn, Đơn Thỉnh Cầu Bác Dơn của các bị đơn được chấp thuận, và vì thế TRUYỀN LỆNH rằng Bản Tu Chính Đơn Khởi Tố Thứ Hai bị BÁC BỎ chung quyết (with prejudice – không thể xin tái thẩm).
Ký tên: JANET L. SANDERS
Thẩm Phán Tòa Superior Court
Ngày 27 Tháng Tám 2004
III.- MỘT VÀI NHẬN XÉT
Sau khi đọc bản án nói trên, chúng tôi xin đưa ra một vài nhận xét như sau:
1.- Về phương diện pháp lý: Trước hết, khi muốn tranh tụng, không thể xử dụng cảm tính hay các lý luận thông thường để quyết định. Phải xử dụng luật lý và các bằng chứng luật định để thẩm định. Dựa theo cảm tính là phiêu lưu.
Thứ hai, kinh nghiệm cho thấy rằng nhà cầm quyền Hoa Kỳ không bao giờ để cho người Việt thắng một vụ kiện như thế này vì nó sẽ làm hỏng chính sách của Hoa Kỳ, đồng thời tạo ra một tiền lệ cho những biến loạn khác xẩy ra. Phương chi phương sách tố tụng mà nhóm tranh đấu xử dụng thiếu căn bản vững chắc, nên thua là dĩ nhiên.
Chúng tôi thường ví quan tòa Mỹ gióng như một anh chàng mặc áo nhiều túi. Việc thành hay bại tùy thuộc vào họ sẽ thọc tay vào ở túi nào. Vì thế, khi ra tòa, không luật sư nào dám đoan chắc mình sẽ thắng cả. Một thí dụ cụ thể là quyền phá thai. Trong Hiến Pháp Hoa Kỳ không hề có quyền này. Muốn công nhận quyền đó, trước hết Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã phịa ra “quyền riêng tư” (right of privacy) và coi đó là một quyền hiến định, Sau đó, Tối Cao Pháp Viện mới lý luận rằng quyền phá thai là một quyền riêng tư, nên không thể bị cấm đoán. Người ta gọi đó là “luật sống”!
Thứ ba, ông Luyện chưa có chút kinh nghiệm nào về tranh tụng nên không biết đến nạn rĩ máu xanh. Trơng một vụ kiện như thế này, họ thường thông đồng với nhau kéo dài thủ tục tố tụng ra để làm kiệt quê nguồn tài chánh ít oi của chúng ta. Cứ hỏi Bùi Bỉnh Bân, Hồ Anh Tuấn, Nguyễn Đình Thắng, Ngô Ngọc Hùng, Ngô Thị Hiền... là biết ngay. Cho theo khoảng hai vụ là chừa thôi!
Trong vụ kiện WJC, ông Luyện có 30 ngày để kháng cáo. Nhưng chuyện này không dễ đàng. Trước hết, Tòa Kháng Cáo không xét về sự kiện nữa mà chỉ xem luật lệ tòa dưới đã áp dụng có đúng hay không. Tranh luận về chuyện này khó thắng lắm. Tòa có thể bắt ký thác tiền án phí khi bị bác đơn kháng cáo. Tiền thuê luật sư viết tờ kháng cáo thường rất cao, vì phải nghiên cứu nhiều mới viết được. Các luật sư Việt Nam không ai muốn dính vào một vụ án như thế này đâu. Ông Luyện cứ thử một lần nữa rồi biết Tú Gàn nói đúng hay sai.
2.- Ảnh hưởng đối với cộng đồng: Trên báo Saigon Nhỏ ngày 13.10.2000, chúng tôi đã viết: “Không ai tin rằng Trung Tâm William Joiner là một tổ chức thiên cộng. Cũng không ai tin rằng Trung Tâm William Joiner cần đến tài năng của hai nhà nghiên cứu Việt Nam, và kết quả nghiên cứu của hai người này sẽ ảnh hưởng đến chính sách của Hoa Kỳ đối với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Nước Mỹ không ngu đến như thế.”
Tại Hoa Kỳ này, mỗi năm có hàng chục ngàn tài liệu nghiên cứu hay tiểu luận được thực hiện về nhiều phương diện, nhưng không phải tất cả những tài liệu đó đều được xử dụng để ấn định chính sách. Đa số công trình này chỉ được thực hiện với mục tiêu huấn luyện về nghiên cứu. Một phần là hình thức trợ cấp cho các nhóm làm tình báo văn hóa của Hoa Kỳ.
Một thí dụ cụ thể: Một số người Việt ngày xưa làm tình báo văn hóa cho cơ quan JUSPAO ở Sài Gòn, nay qua Mỹ họ vẫn được tiếp tục xử dụng. Mỗi năm họ được trả lương bằng một trợ cấp nghiên cứu khoảng $25,000, do một trường đại học cấp. Họ chỉ cần viết một tiểu luận lếu láo khoảng 30 hay 40 trang nạp vào để lãnh tiền. Có người viết cả tiểu luận về nuôi chó trong cộng đồng người Việt. Những tiểu luận đó chỉ được dùng để lót đít ngồi, chứ chẳng ai xử dụng cả.
Trường hợp của Hoàng Văn Hiến và Nguyễn Huệ Chi cũng thế thôi. Người Mỹ đưa hai người này qua đây với hai mục tiêu: Mục tiêu thứ nhất là để họ tập làm quen với phương thức nghiên cứu của Mỹ, khi trở về áp dụng tại Việt Nam để làm thay đổi dần chế độ. Mục tiêu thứ hai là thử xem cách nhìn của họ về cộng đồng người Việt hải ngoại như thế nào. Không có gì quá quan trọng như ông Luyện và nhiều người đã hô hoán lên.
Nhìn chung, vụ kiện WJC đã được thúc đẩy do cảm tính, nên hậu quả của nó cũng gióng như các hoạt động theo cảm tính khác của cộng đồng chúng ta từ trước đến nay.
Tú Gàn
-- Just FWD ... :) (ChuyenTriHOINACH@aol.com), September 11, 2004.
bai` nay` dai` qua'.....toi doc. mang mang' thi` hieu rang` vu. kien la` do cam~ tinh' ??????trong 1 vu. kien ma` dua theo cam tinh' thi` thua la` phai.....vi` vay cho nen ong Luyen kien vi` bi. ky` thi......co' the ong ta da nop don nhung khong duoc nhan......vi` vay ong ta lay ly' do ky` thi thi` qua' hop ly' ....va` hien nay hinh nhu ong ta khong duoc hoc. bang` Master nua thi` phai~ ?????
khi ong tu' gan` dua cho ban. luat su cua ong ta coi...ban ong ta lac dau^`....thi` tuc' la` ban ong nay` la` 1 tay mo.....boi vi` 1 luat su gioi phai tim` moi cach' ....moi ngo ngach' cua luat phap' de huong dan nguoi kien toi' thang' cuoc......moi coi thoi ma` da lac' dau thi` dep. me. nghe luat su di cho roi^`...........
"Má»™t thà dụ cụ thể: Má»™t số ngưá»�i Việt ngà y xưa là m tình báo văn hóa cho cÆ¡ quan JUSPAO ở Sà i Gòn, nay qua Mỹ há»� vẫn được tiếp tục xá» dụng. Má»—i năm há»� được trả lương bằng má»™t trợ cấp nghiên cứu khoảng $25,000, do má»™t trưá»�ng đại há»�c cấp. Há»� chỉ cần viết má»™t tiểu luáºn lếu láo khoảng 30 hay 40 trang nạp và o để lãnh tiá»�n. Có ngưá»�i viết cả tiểu luáºn vá»� nuôi chó trong cá»™ng đồng ngưá»�i Việt. Những tiểu luáºn đó chỉ được dùng để lót Ä‘Ãt ngồi, chứ chẳng ai xá» dụng cả. "
chuyen nay` thi` qua' vo ly'........khi 1 truong dai hoc. nao` do' bo tien ra de lam 1 research.......ho phai co' 1 title.....khong ai ngu ma` bo tien ra muon 1 nguoi nao` do' lam` research ve nuoi cho'!!!!!! tru` khi cai title cua truong dai hoc. do' la` nuoi cho'....thi` researcher lam` theo........
-- Ho Chi Minh Ma Co (MoiRoHoChiMinh@damtac.net), September 11, 2004.
***Thưa các Netters, bạn cũng như thù :)))
Đây là ý kiến của tôi, cách nay gần 1 năm, tôi cũng có email qua lại với Ô Luyện 1 vài lần chỉ là trao đổi ý kiến sơ sài rồi thôi vì "Nguyên đơn" O muốn nói thêm nhiều điều là vì Ls của nguyên đơn muốn thế, điều này đúng vì sẽ làm mất giá trị và làm cho Ls khó bào chữa
Trong các DienDanYAHOO, có rất nhiều trao đổi của các Netters về vụ này, đại loại kẻ bênh "ủng hộ thụ động" bằng mồm thì nhiều y như trong VAS này còn có các nguời khác đặt câu hỏi và nhắn 1 vài lời thì các Netters ủng hộ kia nhao nhao chửi rủa
Tôi không Pro Ô TuGan tuy cũng có Email cự nự Ô ta vài lần nhừng phải nói, Ô ta nêu ra nhiều chi tiết đối với tôi là hợp lý và tôi muốn FWD vào VAS cho rộng đuờng dư luận, bài của Ô TuGan này đã bỏ vào Mailbox của tôi hàng tháng nên tôi biết .
Với tôi, là kẻ O rõ rành Laws nên chỉ nói theo ý tính riêng là cuộc tranh tụng chưa hẳn đã chấm dứt, nhưng 1 khi dính vào kiện tụng thì phải có $$$$, chúng ta và thế giới bên ngoài đã viết cả hàng ngàn quyển sách nói về nguời CỘNG SẢN, về chủ THUYẾT Cộng Sản thì cũng chảng khác gì WJC thuê 1 vài anh Vẹm viết về Tị Nạn duới CÁI NHÌN của Vẹm, thế thôị
Lúc ban đầu tôi cũng như mọi nguời khác, nghĩ rằng quả là WJC bựa và các anh Vẹm chơi trội, đúng thế, nhưng nếu nhìn rộng và xa hơn thì chẳng là gì, họ có quyền thuê muớn nguời họ muốn, còn mình thay vì dùng 2-3 trăm ngàn đi kiện tụng thì số tiền này thuê nguời VIẾT SÁCH làm nguợc lại WJC có lẽ hay hơn và để lại cho con cháu họ đọc sẽ có ích lợi hơn ?!.
Quả thế, đã có nhiều nguời đã đề nghị và tôi đọc qua lời đề nghị thấy có lý, dùng 2-3 trăm K viết tha hồ
Nhưng khổ 1 nỗi, cứ hễ ai đụng đến vụ kiện thì cái nhóm ủng hộ của họ nhao nhao lên thoá mạ là HÈN là TỒI v.v... nên ai cũng tránh và cố giữ im lặng chờ đợi kết quả
Phải nói thực, vụ kiện vẫn chưa hẳn là xong chẵn chòi vì còn thời gian KHÁNG ÁN và $$$$
-- Be REALLISTIC with your self :) (ChuyenTriHOINACH@aol.com), September 11, 2004.
***Xin tiếp cho anh MacoĐamtacNET
Tôi đã post và đề nghị với Ô Luyện là hãy thử CONSULT với các Ô Ls/ThamPhan Viet Dinh, Phang Quang Tue v.v... để xem ý kiến của họ ra sao vì họ là cá nhà Laws khá nổi tiếng của cộng đồ.ng Tị Nạn
No REPLY ?
Trong WJC, O hẳn là chỉ có các Ô Vẹm mà còn cả các Bs Ks của Tị Nạn cũng là MEMBERS và đuợc WHC thuê muớn đấy, khổ 1 nỗi là các ngày này IM HƠI LẶNG TIẾNG
Cái khó cho loài dân ngu cu đen như chúng ta vì O hiểu LAWS là dùng LAWS chọi nhau và $$$ là quan tro.ng trong kie.n ca'o
-- Now, we'll go to NEXT LEVEL to do MOUTH FIGHT .... no CHEAP TALK ... :) (ChuyenTriHOINACH@aol.com), September 11, 2004.
cai' kho' la` o cho do'.......thu hoi co' bao nhieu nguoi` that su dung' ra dam duong ly tuong chong cong ??? TT Ngo Dinh Diem , Le Minh Dao, Bui Huy Luyen, Viet Dung, Nguyet Anh', TT Asia .......hoac co the con` nhieu nua nhung toi chua duoc biet ???? nhung nguoi` ma` that su khi Vem dua ba~ danh vong. va` tien bac. ra nhu~.....ho. san sang` tu choi ???con` hien nay ....noi dung' ra cong dong nguoi Viet tu do chong Vem 1 cach' rieng re .....khongh ai phuc ai......do' la` dac tinh' cua dan Vietnam
con trong nuoc' thi` chi co' lu Vem vi` bi. that sung cho nen quay ra da kich chong doi' lu Vem dang ngoi mat' an bat vang` .....ai hy vong. vao` chung' thi` cu viec.....con` toi thi` chiu. thua .....nhung ai biet duoc. co' anh Tau` phu` dung' phia' sau hay khong ???/ My thi` chac' cha them` ngo' toi' cai xu Vietnam vi` no' cha co' 1 cai the chien luoc me. gi` tren the gioi' va DNA nua....neu con` thi` anh Nga cha co' ma` nha~ ......My nham' Uc' chac' an hon vi` ho. cung` tieng noi' va` de hieu nhau hon.........con` cai' anh VN thi` thoi.....loan xa. cao` cao` ca~ len........dau da' lon tung` pheo` tu` co chi' kim .......1 dat nuoc' khong bao gio` binh` yen vi` thu` trong giac ngoai`....
my 5 cents
-- Ho Chi Minh Ma Co (MoiRoHoChiMinh@damtac.net), September 11, 2004.
Just want to remind you guys, Massachusetts ( MA ) is the most liberal state in the U.S., and the state judiciary branch are holding the most liberal view in court ( same-sex marriage is ok'ed now in MA and this is the state John Kerry came from ). In this case, the vietnamse community, i'm afraid, would not have a chance to win in the appeallate court. If the lawsuits happenned to be in those conservative states as in the southeasthern states ( Virginia, georgia, north and south carolina, texas,...The Christian'states ) where the anti-communist sentiments is still strong, or where we have a large vietnamese community.... then we would have more chances...( sorry, my vietnamese software doesn't work tonight )
-- vodanhDC@chetchaCS (vodanhdc@yahoo.com), September 11, 2004.
VC chi la Dan Ngu Cu...Xam :-))), khong dam dung tu dao to bua lon, nhung co vai nhan xet mang tinh chat 1 chieu tu trong nuoc nhu sau:1- WJC do Tien si Kevin Bowen chu tri, ong nay co co con gai nuoi la nguoi Vietnam, rat co cam tinh voi VN. Sach bao trong nuoc ca ngoi ong nay rat nhieu vi co cong han gan vet thuong long cho ca 2 ben My va VN, dac biet ong da tung la Cuu chien binh chien dau tai VN nhung nam 60 the ky truoc.
2- WJC tuyen nguoi de viet ve Viet kieu ma sao khong co 1 ai trong cong dong tri thuc VK applied for the job! Nghia la ba con ta chang them quan tam den chinh minh, de cuoi cung WJC moi 2 ong tu trong nuoc sang viet ve minh. Hoac gia cac vi thay minh khong du trinh do nen khong giam apply???
3- Theo nhu sach bao trong nuoc, WJC chi lam nhiem vu nghien cuu tho van thoi Chien Tranh cua ca 2 phia My va VNCS de biet doi phuong nghi gi, tu do hieu nhau them , that chat bang giao giua 2 nuoc ve mat Van Hoa, Cong Dong VK cha dinh dang gi toi cai Project nay. Cac nha nghien cuu, nha van , nha tho cua VN con co cai danh dai dien cho Dat Nuoc VN ngay nay, vay thi WJC phai giao luu van hoa voi ho thi moi vao VN duoc chu, neu chong Cong thi lam sao vao VN de ma nghien voi lai cuu,
4- Trung tam nay da moi nha van Le Luu ( Thoi xa vang ), Nguy Ngu cua VNCH va mot so nha van nha tho CS khac sang My tham quan va lam viec, thuyet trinh truoc cu toa la cac nha van My do WJC to chuc. Trong qua trinh o My, Le Luu co ke chuyen bi dong bao VK san lung doa dam du lam, y nhu kieu nguoi da do san lung nguoi My da trang thuo xa xua. Co the doc cuon " Hai lan den nuoc My " cua Le Luu de tham khao.
Vai y kien viet choi choi gop cung cho vui, neu co sai sot xin VAS Netters cua ca 2 phia luong thu
-- Viet Cuong (wilson_beng@yahoo.com), September 11, 2004.
***Anh BACLIEU PalTalk co' y' Kie^'n y' Ka`ng chi O :))))))
Please, fill up the tank of Gasoline :))))))))))
-- Just Spit it out :) (CHuyenTriHOINACH@aol.com), September 12, 2004.
dong y' 1 quan diem trong post cua chu' VC......dan VN la` nhu vay......khi co' co hoi thi` khong chup. .., den luc mat roi thi` la oai oai' nhu may ba` mac' de~vi' du. nhu truoc 75 song trong tu do sung suong' thi` di bieu tinh`, chua' Vem. trong nha`, an com quoc gia tho ma Thi. Sau' .......sau 75 thi` chay. tan' loan. nhu vit.....ra toi' nuoc ngoai` thi` ban dau ca khoc' mat nuoc' ...sau thi` mo` ve VN ca ong ong nhu thang` Elvis Phuong Lun`....... etc
qua nhung cuoc khao sat' thi` dan Viet o My di bau rat it'....thua ca cong dong nguoi Me, Cuba.....v.v.....hinh` nhu ho. chua hieu duoc. do la` quyen loi. cua minh`
van but' quoc te moi` cong dong nguoi` Viet tu do tham gia.....cac' nguoi lo dam da' chui nhau.......den gio phut' chot'....neu khong co' ai thi` ho. moi` Vem....luc' do' cac' ngai` moi' chiu. tam. ngung khau chien etc...................etc................ect
ro~ chan' ..........
my 10 cents
-- Ho Chi Minh Ma Co (MoiRoHoChiMinh@damtac.net), September 12, 2004.
Chuyện ruồi bu ,ở bên Mỹ nếu thua kiện thì không những phải trả tiền luật sư của mình mà còn của nó công thêm tiền bồi thường thiệt hại có thể lên tới bạc triệu .
-- thich du thu (toollovers@comcast.net), September 12, 2004.