Cac bai binh luan trich tu cac website o Hai Ngoai (13-07-2004)

greenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread

Bắc Bộ Phủ ton những tn Đầu Gấu, Sống v tm quanh bữa tiệc đầu lu,
Ta ci đầu - Cộng cỡi cổ, Ta đứng dậy - Cộng sụp đỗ

-------------------------------------------------------------------------------------------

Tuong Lai cua Viet Nam

Trich tu Dan Chim Viet - Người Thăng Long

...Sắp tới kỳ thi cc cấp, thi đại học v nghỉ h...đ l khoảng thời gian hồi hộp v đng ghi nhớ nhất của tuổi học tr. Nhưng học tr by giờ khc lắm Đổi mới theo định hướng...tung te X Hội Chủ Nghĩa nn nhận thức tư duy của học tr by giờ cũng thay đổi. Ci được gọi l kiến thức thường thức bị rơi vi hết (nhớ lm g cho mệt). Cc c t, cậu t nhầm lẫn lung tung, v dụ như Nguyễn Huệ l vị anh hng trong chiến dịch Điện Bin, L Thị Hồng Gấm đnh tan qun Triệu Đ...những việc như vậy l chuyện thường ngy tại trường. Nhn vo hnh thức bn ngoi th si động việc học thm, từ cấp một tới cấp ba, nhưng thực chất th chẳng c g sng sủa, dốt vẫn hon dốt, cng con ng chu cha th cng dốt, học t ph phch chơi bời th cực kỳ sng tạo, tiu tiền khng cần đếm...Ni tới việc học thm, th ta phải nghĩ km theo một điều l thầy c gio chẻ tập trung vo việc ny để kiếm tiền, chứ khng tận tm vo việc truyền đạt kiến thức cho thế hệ rường cột của nước nh. Chng n lớn ln vo đại học bằng con đường mua bn bằng cấp, đt lt, sau khi ra đời cũng bằng con đường hối lộ chng sẽ ngồi vo những vị tr ra tiền ra của, để nhanh chng thu lại vốn...đầu tư, cứ xoay trn như thế, đng l, ni như Nguyễn Huy Thiệp l hoan h ci đn cViệc ny mang đầy tnh kế thừa, bố mẹ chng cũng mua bằng cấp để ngồi cht vt trn ghế lnh đạo th con chu no c chịu thua.

Thương l thương cc em nh ngho học giỏi m khng c phương tiện ăn học, sự nghịch l ny trong tương lai sẽ biến đất nước thnh một bức tranh ảm đạm. Theo con ś th́ng k chính thức, thì giới trẻ VN v̀ trí tụ đứng cúi bảng trong khu vực Đng Nam Á, k̉ cả phát trỉn v̀ chìu cao. Nhưng chưa có ai th́ng k v̀ vịc ăn chơi, đ̣p phá, mình tin chắc ńu có, chắc phải đứng đ̀u bảng. Ṃt bủi sinh nḥt bạn bè, con ṃt quan chức của Ḅ Chính Trị tiu h́t mười nghìn đ là chuỵn vặt, con các ng bà giám đ́c cng ty, cũng chẳng chịu nhường bước, by giờ đi xe máy đắt tìn trở nn lạc ḥu, phải đua xe bằng t đời mới cỡ trn dưới trăm nghìn đ mới là người hùng, năm ngoái tại Sài Gòn vịc này đã x̉y ra, còn by giờ trở thành lạm phát báo chí khng còn thời gian mà đ̀ c̣p tới...Học thì d́t, chơi bời thì giỏi, b́ mẹ sẵn tìn nn bỏ tìn túi cho con đi học nước ngoài, mười c c̣u xút ngoại thì tới chín c c̣u xách vali v̀ nước vì khng theo kịp chương trình, cũng chẳng sao đã có cái mác là...

du học thì vịc kím ch̃ làm béo bở, ra tìn có gì là khó, b́ mẹ chỉ c̀n nh́c phn ln là mọi vịc đu vào đ́y.K̉ ra thì dài lắm, thư sau mình sẽ vít dài hơn v̀ ṃt đ̀ tài khác, ở VN khng thíu đ̀ tài, b̃ng nhớ tới bức thư của H̀ Chủ Tịch gửi các cháu học sinh nhn ngày khai trường: ..Non sng VN có được vẻ vang hay khng, có được sánh vai với các cường qúc năm chu hay khng, chính là nhờ vào cng học ṭp của các cháu...Cứ đà này, Bác cứ yn tm mà yn nghỉ trong lăng, con cháu Bác sẽ khng phụ lòng...

-- Khao Khat Cho VN Duoc TU DO (khao_khat_cho_vn_duoc_du_do@yahoo.com), July 13, 2004

Answers

Thi đại học: Gian lận tinh vi hơn

Trich tu Nguoi Viet On Line - Monday, July 12, 2004 1:40:31 PM tuyen

2,600 th sinh bị đnh chỉ thi

H NỘI 12-7.- Ngy 10/7/2004, Thứ Trưởng Bộ GD&T CSVN Trần Văn Nhung cho biết trong số hơn 2,600 th sinh bị đnh chỉ thi c 10 trường hợp dng điện thoại di động. Với đề thi khng qu kh, điểm chuẩn dự bo sẽ cao hơn năm 2003.

VNExpress ngy 11-7-2004: Lượng th sinh vi phạm quy chế giảm 20% so với năm 2003 nhưng thủ đoạn gian lận trong tuyển sinh lại tinh vi hơn. Theo Thanh Tra Bộ GD&T CSVN, phao thi khng chỉ được giắt trong ti quần, o m cn được giấu dưới giy, my tnh. Một số th sinh thậm ch cn cuộn phao giấu trong thước kẻ. Nhưng điểm đng ch năm nay l hiện tượng sử dụng điện thoại di động gắn tai nghe khng dy để nhắc bi.

Hơn 10 đối tượng sử dụng thủ đoạn ny đ bị Lực Lượng An Ninh Văn Ha PA 25 H Nội, Hải Phng, Huế... bắt quả tang. Một đường dy thi thu lớn cũng được Cục An Ninh Văn Ha A25 đưa ra nh sng.

H Thi Nguyn l trường giữ kỷ lục về số th sinh bị đnh chỉ thi: 461 em. Tiếp đ l H Luật với 264 trường hợp, H Ty Bắc 211 em. Hội đồng thi khối C của H Quốc Gia H Nội cũng tỏ ra mạnh tay khi đnh chỉ thi 133 th sinh. Trong khi đ, một số trường như H Bch Khoa H Nội, Học Viện Quan Hệ Quốc Tế, H Y Hải Phng lại c bản bo co kh đẹp: Khng c th sinh vi phạm quy chế.

Năm nay, Bộ GD&T CSVN đ yu cầu cc hội đồng thi kin quyết xử l gim thị vi phạm quy chế tuyển sinh. Trong số 14 gim thị bị kỷ luật c 11 gim thị bị đnh chỉ coi thi do để th sinh chp bi, sử dụng điện thoại di động. Tại H Hồng ức đ xảy ra tnh trạng gim thị qun khng nộp một ti bi thi của th sinh. ến buổi tối hm đ, lực lượng cng an đ tm thấy ti bi thi ny tại nh một th sinh.

Trao đổi với VnExpress, Ph Chnh Thanh Tra Bộ GD&T Trần B Giao cho biết, khi tm thấy ti bi thi, PA 25 tỉnh Thanh Ha xc định khng c dấu hiệu tro bi hoặc viết thm vo bi thi. Th sinh đem ti bi thi về nh l con một gio vin tiểu học địa phương. Em ny cho hay khng hề biết trong ti bi thi c bi của mnh. Chng ti sẽ tiếp tục điều tra v c biện php xử l kin quyết với 2 gim thị trn, ng Giao ni. ược biết, hai gim thị đ l gio vin nhạc họa v thể dục.

Năm nay, hệ số chọi vo một số H trọng điểm đ giảm mạnh. H Sư Phạm H Nội c tỷ lệ chọi thấp kỷ lục: 2.1, H Bch Khoa H Nội: 2.4. iều ny chứng tỏ phụ huynh v th sinh đ c sự lựa chọn trường hợp l hơn. Trong hai đợt thi H, c hơn 888,000 th sinh dự thi, chiếm 78% hồ sơ đăng k dự thi (KDT).

10h30' sng qua, đợt 2 kỳ thi H, C 2004 đ kết thc với cc mn Ha (khối B), ịa (khối C), Ngoại Ngữ (khối D). Mặc d đề thi khng qu kh nhưng tại cc hội đồng, nhiều th sinh vẫn bỏ thi. Tại H Cng on H Nội sng qua c 34 th sinh khng đến dự thi. Trong buổi thi chiều hm trước cũng đ c 38 em từ bỏ cuộc đua. ến 10h sng qua, H ny khng c th sinh bị đnh chỉ thi.

Theo Phạm Quang ạt - Trưởng Phng Hnh Chnh Tổng Hợp, danh sch trường hợp nghi vấn thi hộ, thi km đ được gửi cho Lực Lượng An Ninh Văn Ha H Nội PA 25. Trong 3 buổi thi, những th sinh ny được gim thị xếp chỗ ngồi xa nhau để hạn chế trường hợp nhắc bi.

Ma tuyển sinh ny, H Cng on c 6,232 th sinh dự thi, chiếm 74% hồ sơ KDT. Theo ng ạt, tại cc điểm thi, th sinh kh ho hứng v lm được bi. Nhiều em cho biết đề thi năm nay vừa sức nhưng khng qu dễ, cần phải suy luận. Nếu chỉ chăm thi sẽ khng được điểm cao. Sng qua, H Khoa Học X Hội V Nhn Văn H Nội c hơn 100 th sinh bỏ thi. Phần lớn số ny khng lm được bi những mn trước đ. Mặc d đề thi năm nay được đnh gi l khng qu kh.

-- Khao Khat Cho VN Duoc TU DO (khao_khat_cho_vn_duoc_du_do@yahoo.com), July 13, 2004.


Thn Phận Con Tm Việt Nam: Trn Đe Dưới Ba

Trich tu Nguoi Viet On Line - Friday, July 09, 2004 1:30:35 PM Thiện Giao .

(Việt Nam ngy nay) Thiện Giao.

Ngy 7 Thng Bảy vừa qua, Bộ Thương Mại Hoa Kỳ đ ra phn quyết sơ bộ quyết định gia tăng thuế suất đnh trn tm Việt Nam nhập khẩu vo Hoa Kỳ. Theo phn quyết ny, bốn cng ty nhập tm Việt Nam vo Hoa Kỳ sẽ bị đnh cc mức thuế khc nhau ty theo mức độ trợ gi khc nhau. Một cch tổng qut, mức gia tăng thuế nằm trong khoảng từ 14.89% đến 93.13%..

C hai l do để ngnh tm Việt Nam bị mang ra điều tra về việc ph gi, đ l Việt Nam nằm trong danh sch cc nền kinh tế phi thị trường (non-market economy) v ngnh nui trồng tm tại Việt Nam c dấu hiệu bn ph gi hoặc được b gi bởi chnh phủ..

Cc quan điểm v yếu tố kỹ thuật được p dụng để điều tra ph gi ra đời v thay đổi lin tục. Về l thuyết, điều tra ph gi l hệ quả của một nền kinh tế bị cho l phi thị trường. Theo định nghĩa được ban hnh bởi Ủy Ban Mậu Dịch V Pht Triển của Lin Hiệp Quốc, một nền kinh tế phi thị trường l: Nền kinh tế trong đ chnh phủ quyết định ton bộ cc hoạt động kinh tế thng qua cc kế hoạch kinh tế, như trường hợp Lin Bang X Viết. Trong nền kinh tế phi thị trường, cc yếu tố gi cả, chi ph, sức lao động, phương tiện sản xuất, vật liệu sản xuất v mậu dịch quốc tế đều được xy dựng dựa trn cc kế hoạch kinh tế được hoạch định bởi cc cơ quan trung ương. V vậy, khu vực kinh tế quốc doanh sẽ nắm vai tr quyết định ảnh hưởng ln quan hệ cung cầu bn trong nền kinh tế ấy..

Khi Lin Bang X Viết v hng loạt cc quốc gia cộng sản khc sụp đổ, cc định nghĩa về kinh tế phi thị trường thay đổi, do đ cc cch thức tiến hnh điều tra ph gi cũng thay đổi theo v thường được tiến hnh khc nhau ty theo nước nhập khẩu. Cc quốc gia nhập khẩu lớn như Hoa Kỳ, Ấn ộ, Nam Hn hay cc nước Chu u đều c những tiu chuẩn ring để p dụng vo cc điều tra ph gi. Hoa Kỳ c thể được xem l mạnh tay nhất trong tiến trnh điều tra ph gi. Tại Hoa Kỳ, Bộ Thương Mại c ton quyền định nghĩa v p dụng phương php thẩm định mức độ ph gi. Theo định nghĩa của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ: Gi cả trong nền kinh tế phi thị trường, một cch tổng qut, khng thể l thước đo c nghĩa gi trị của hng ha, bởi v gi cả khng thể phản nh một cch hiệu quả nhu cầu hoặc sự khan hiếm tương đối của yếu tố sản xuất... Vấn đề của nền kinh tế phi thị trường khng nằm ở sự sai lệch của gi cả.... m nằm ở tiến trnh tạo ra gi cả (chẳng hạn, sự thiếu vắng cc yếu tố cung-cầu dựa trn đ nền kinh tế thị trường c thể hoạt động được)..

Do Việt Nam đang nằm trong danh sch cc nền kinh tế phi thị trường, Hoa Kỳ c ton quyền trong việc tiến hnh điều tra hiện tượng v mức độ ph gi của ngnh tm Việt Nam. iểm then chốt trong tiến trnh điều tra ph gi l sự so snh ba yếu tố: Chi ph sản xuất - gi thnh phẩm - v gi trị hng ha..

Thng thường, cc quốc gia nhập khẩu thường lợi dụng cc điều khoản chống ph gi được ban hnh bởi Hiệp Ước GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) để tiến hnh điều tra. Theo ng Andrew Stoler - nguyn Ph Tổng Gim ốc iều Hnh WTO, th cc điều khoản của hiệp ước ny cho php phn biệt đối xử trong trường hợp cc quốc gia bị xem l c hiện tượng độc quyền của nh nước trong cc vấn đề mậu dịch quốc tế. Theo ng, cc quốc gia nhập khẩu thường lợi dụng hiệp ước của GATT để từ chối sử dụng cc số liệu lin quan đến gi thnh v chi ph sản xuất do cc nước bị kiện đưa ra. Thay vo đ, pha nguyn đơn thường dng số liệu của cc quốc gia c nền kinh tế thị trường với mức pht triển tương tự pha nền kinh tế phi thị trường để từ đ suy ra tnh trạng của nền kinh tế ny. Chnh từ sự so snh gin tiếp ny, cc kết luận của bn nhập khẩu thường khng chnh xc, nếu khng muốn ni, họ c thể bp mo sự thật trong qu trnh so snh của mnh..

Bn cạnh đ, cc luật lệ p dụng trong qu trnh so snh - theo ng Stoler, thường kh rộng ri v c lợi cho pha nhập khẩu, do đ kết quả chuyển đổi thường xảy ra bất lợi cho pha xuất khẩu..

Cc vụ kiện lin quan đến ph gi lin tục xảy ra trong mấy năm vừa qua, từ vụ c catfish, đến vụ tm, v trong tương lai sẽ đến cua nhập khẩu từ Việt Nam. iều tra ph gi thường dẫn đến thắng lợi cho cc nh sản xuất nội địa Hoa Kỳ. Theo một số nh nghin cứu kinh tế, mặc dầu việc thc đẩy tnh cạnh tranh trong kinh tế l điều quan trọng, cc vụ kiện ph gi thường khng tiến hnh một cch hon ton kinh tế. Nhiều khi, kinh tế chỉ l những lập luận c tnh cch bề mặt để lm dịu đi mục đch thực bn trong, đ l sự thc đẩy mang yếu tố chnh trị (hoặc kinh tế chnh trị) ln cc nền kinh tế phi thị trường. Theo tc giả Adam McCarty v Karl Calapesi, th khng một quốc gia hay nền cng nghiệp ring rẽ no c thể vượt qua được cc tiến trnh điều tra trừ khi cc quyết định mang tnh chnh trị được ban hnh để hủy bỏ nền kinh tế phi thị trường..

Từ cc lập luận ny, chng ta c thể thấy rằng, một khi đ bị dn nhn l phi thị trường, sự thua kiện gần như nắm chắc trong tay. Về pha chnh phủ Việt Nam, việc từ chối bỏ cải tổ hệ thống ngn hng (l một trong cc yếu tố khiến Việt Nam bị ghi tn trong danh sch kinh tế phi thị trường) l chọn lựa c thức của chnh phủ Việt Nam. Sự chọn lựa ny nhằm bảo đảm nguồn lợi kinh tế cho ảng Cộng Sản v cc đảng vin. Về pha Hoa Kỳ, việc đm đơn kiện v thắng kiện của giới nui tm nội địa l điều khng gy ngạc nhin. ứng về mặt tiu thụ, người dn Hoa Kỳ bị thiệt hại v gi tm sẽ tăng theo thuế. Tuy nhin, một cch tổng qut, Hoa Kỳ ni chung khng thiệt hại. V giới nui tm được lợi. Lợi v hại, đối với Hoa Kỳ, chỉ c tnh tương đối v chỉ l sự chuyển đổi từ nhm người ny sang nhm người khc m thi..

Người duy nhất bị thiệt hại chnh l nng dn Việt Nam. Vi tuần tới, cc mức thuế mới sẽ được p dụng, nhưng ngay by giờ, cuộc sống của hơn 2 triệu nng dn Việt Nam đ bắt đầu bị ảnh hưởng nặng nề. Những ảnh hưởng trực tiếp về nợ nần, cng ăn việc lm... sẽ ko theo cc ảnh hưởng lu di về mi trường. Một khi bn khng được tm, người nng dn sẽ bị đẩy vo tnh trạng nợ nần. ể thanh ton cc mn nợ ny, người nng dn cần bn tho tm đi để trả nợ hoặc bn lại đất đai của mnh cho cc nh đầu tư khc khai thc nng nghiệp. Sự thay đổi điều kiện v mức độ khai thc nng nghiệp sẽ dẫn đến cc hậu quả tai hại về mặt mi trường..

Trong khi đại diện của ngnh nui tm Việt Nam tuyn bố sẽ chiến đấu đến cng, t người nng dn Việt Nam no hiểu được qui luật khắt khe của cuộc chơi mậu dịch ton cầu. Khi Hoa Kỳ tăng thuế, người nng dn Việt Nam thấy Hoa Kỳ chnh l thủ phạm gy nn những thiệt hại cho mnh..

Trong khi đ, thủ phạm thật sự gy nn nền kinh tế phi thị trường vẫn im hơi lặng tiếng, để hưởng lợi.

Thiện Giao

-- Khao Khat Cho VN Duoc TU DO (khao_khat_cho_vn_duoc_du_do@yahoo.com), July 13, 2004.


dan chu

LỢI KHÍ TỰ DO TRUYỀN THÔNG TRONG CÔNG CUỘÂC GIẢI PHÓNG ĐẤT NƯỚC

GS Vũ Quốc Thúc

Trước khi đi sâu vào vấn đề , chúng tôi cần xác minh về hai cụm từ " tự do truyền thông " và " giải phóng đất nước " .

Tư do truyền thông , theo chúng tôi quan niệm , không phải chỉ có sự tự do thông tin dưới các dạng quen thuộc như báo chí , phát thanh , truyền hình , tín điệp điện tử , trang nhà trên Internet , băng và đĩa ghi âm , băng và đĩa ghi hình v.v.. Tự do truyền thông bao gồm cả sự tự do học hỏi như đọc và lưu trữ sách báo, phim ảnh , băng nhạc ... tham khảo tài liệu qua mạng lưới internet , minitel , nghe các đài phát thanh , xem các đài truyền hình , tham dự các buổi diễn giảng , các lớp và khóa huấn luyện dù không do Nhà nước tổ chức . Dĩ nhiên , tự do truyền thông phải bao hàm cả sự tự do phát biểu tư tưởng , tự do sáng tác văn hóa phẩm , tự do xuất bản , tự do phát hành , tự do trao đổi ý kiến trong những buổi hội thảo công khai hay thu hẹp v.v.. Mọi hình thức hạn chế hay kiểm duyệt phải coi là biệt lệ và không được vi phạm Hiến Pháp quốc gia cùng các Công Ước quốc tế đã được Nhà nước phê chuẩn.

Cụm từ " giải phóng đất nước" có thể khiến nhiều đồng bào quốc nội - nhất là các bạn sinh sau năm 1975 - ngạc nhiên . Ngạc nhiên vì từ nhiều năm nay , báo chí , các đài phát thanh và các đài truyền hình của Nhà nước không ngớt khẳng định là sau khi thắng Pháp năm 1954 , thắng Mỹ năm 1973 , thống nhất hai miền Nam Bắc năm 1975 , đuổi quân đội Trung Hoa khỏi những vùng bị tạm chiếm đóng trong cuộc xung đột năm 1979 , thoát ly bá quyền của Mạc Tư Khoa do sự giải thể của Khối Cộng Sản Liên Xô , Việt Nam đã trở nên hoàn toàn độc lập . Như vậy tại sao còn đặt vấn đề giải phóng đất nước ? Lý do dễ hiểu : đối với chúng tôi , công cuộc giải phóng đất nước chưa hoàn tất mặc dù trên bình diện quốc tế ta đã giành lại được chủ quyền chính trị . Nếu chính quyền ngự trị ở quốc nội không phải do nhân dân tự do bầu lên , nếu chế độ chính trị rõ ràng không phù hợp với nguyện vọng của đại đa số nhân dân mà chỉ tồn tại do ý muốn của một thiểu số dùng mọi thủ đoạn bất chính để bảo vệ quyền lực và địa vị của mình thì đâu đã hết nạn lệ thuộc ? Ở đây tôi nghĩ đến sự lệ thuộc của các nông nô đối với lãnh chúa dưới chế độ phong kiến , của tầng lớp thứ dân đối với giới quý tộc dưới chế độ quân chủ chuyên chế . Những hạng người " thấp cổ bé miệng" vừa kể có cần được " giải phóng " không ? Chúng tôi đặt vấn đề " giải phóng đất nước " là trong tinh thần đó . Tôi chợt nhớ lại câu nói của ký giả Henri de Turenne khi kết thúc loạt phim về lịch sử Việt Nam được chiếu trên đài truyền hình Pháp Antenne 2 năm 1984 : " Dân Việt Nam đã giành lại được quyền độc lập của xứ xở nhưng họ vẫn còn phải tranh đấu để được tự do " . Dù không đồng ý với cách nhìn nhiều sự kiện lịch sử Việt Nam của Henri de Turenne , tôi sẵn sàng chia sẻ quan điểm của ông ta về tình trạng thiếu sót tự do ở nước ta vào hồi đó .

Hai chục năm đã trôi qua từ cuộc tranh luận giữa Henri de Turenne và chúng tôi . Tình trạng có thay đổi nhiều không ? Mặc dù đã có những biện pháp cởi mở khá quan trọng trong hai lĩnh vực kinh tế và ngoại giao , ta phải đau xót nhận định rằng đồng bào trong nước vẫn chưa thoát khỏi sự áp bức nặng nề của một chế độ độc tài toàn trị . Sự áp bức đó hàng ngày được phơi bầy trắng trợn trong các lĩnh vực chính trị , xã hội, văn hóa , tư tưởng .

Trong lĩnh vực chính trị chẳng hạn , mặc dù đảng Cộng Sản đã nắm chắc trong tay mọi bộ phận của guồng máy Nhà nước , Đảng vẫn không chấp nhận sự hiện diện và hoạt động của bất cứ tổ chức chính trị độc lập nào không theo đúng mục tiêu và đường lối của mình . Nếu tổ chức này tưởng rằng có thể dựa vào sự ủng hộ tinh thần của nhân dân hay của quốc tế để làm những hành động thông thường của mọi chính đảng như hội thảo , phổ biến tài liệu để huấn luyện các thành viên , trả lời phỏng vấn của báo chí ( dĩ nhiên là báo chí ngoại quốc ) thì Đảng Cộng Sản không ngần ngại ra lệnh cho Công An bắt giam các lãnh tụ dám công khai ra mặt như vậy , hạ lệnh cho Viện Kiểm Sát Nhân Dân truy tố họ trước tòa án hình sự về " tội mưu toan phá hoại chế độ " : Tòa án thụ lý nội vụ , thay vì xét sử công bằng theo Pháp lý thì luôn luôn kết tội các nghi can theo chỉ thị của Đảng . Điển hình cho cách đàn áp đối lập này là vụ Giáo sư Nguyễn Đình Huy và vụ Bác sĩ Nguyễn Đan Quế . Còn đâu là quyền tự do phát biểu ý kiến của người công dân ? đâu là quyền tự do thông tin được mọi nước văn minh tôn trọng ?

Trong lĩnh vực xã hội , nếu các tôn giáo quen thuộc như đạo Ky tô , đạo Phật , Đạo Cao Đài , Đạo Tin Lành , Phật Giáo Hòa Hảo được tiếp tục sinh hoạt thì nhà cầm quyền Cộng Sản bắt buộc các giáo sĩ cùng tín đồ phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Đảng , từ việc giảng đạo cho tới việc ấn loát kinh sách cùng cách thức và điều kiện tuyển mộ chủng sinh : nói khác tôn giáo được phép tồn tại nhưng phải tự biến mình thành một giáo hội " quốc doanh " , một tổ chức ngoại vi của Đảng , không hơn không kém ! Những tu sĩ nào không muốn bị kiểm soát như vậy thì hoặc là phải hoàn tục , hoặc là chấp nhận mọi sự trừng phạt bất công , độc đoán như không được di chuyển khỏi nơi cư trú , không được liên lạc với bất cứ ai dù chỉ bằng điện thoại . Những thí dụ nổi bật nhất là sự cầm tù/quản chế các hòa thượng Huyền Quang , Quảng Độ , linh mục Nguyễn Văn Lý ... chưa kể nhiều chức sắc Cao Đài , Hòa Hảo và mục sư Tin Lành khác .

Đâu là quyền tự do tìm hiểu Chân lý , tự do rao giảng điều lành , nền tảng của văn minh nhân loại ?

Vẫn trong lĩnh vực xã hội , vì mọi hình thức thông tin đều bị cán bộ Cộng Sản ở các cấp từ trung ương tới xã thôn , phường , khóm tùy tiện kiểm soát , nên đám người này đã lợi dụng quyền thế , mặc sức tham nhũng , tha hồ móc nối với những phần tử bất lương , tống tiền , buôn lậu , gá bạc , mãi dâm , bán phụ nữ, trẻ em ra nuớc ngoài để kiếm lợi ... Chưa bao giờ phong hóa nước ta lại suy đồi đến như vậy ! Những vụ động trời như vụ thủy cung Thăng long , vụ Năm Cam .. chỉ là phần nổi của một tảng băng cực kỳ sâu rô.ng.

Sau hết , khỏi cần chứng minh là trong lĩnh vực văn hóa , tư tưởng , Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn theo sát đường lối áp dụng từ thời Stalin : đừng bao giờ nói tới tự do văn hóa ! vì văn hóa không phải để thỏa mãn những ước mơ , những thị hiếu , những tiềm dục của cá nhân ... mà có nhiệm vụ phục vụ phúc lợi chung của cộng đồng . Ai biết rõ phúc lợi này ? Dĩ nhiên là Đảng , cụ thể là Ban Văn Hóa Tư Tưởng của Đảng ... Những nhà văn , nhà thơ , nghệ sĩ , nhạc sĩ ... không theo đúng đường lối mà Đảng đã đề ra thì chỉ còn một cách là sáng tác thầm kín để thưởng thức riêng , đừng mơ tưởng hão huyền là các tác phẩm đó sẽ được phổ biến ! Vụ Nhân Văn Giai Phẩm là một thí dụ điển hình .

Nói tóm lại , sự thiếu sót tự do ở nước ta quả thực là một đại họa đang khiến cho nhiều lương dân đau khổ , khiến cho dân tộc ta tụt hậu thê thảm so với thế giới văn minh , khiến cho xã hội Việt Nam băng hoại, thể diện của dòng giống Lạc Hồng bị ô nhục ...

* * *

Tại sao tình trạng lại tồi tệ như vậy , trong khi nền kinh tế của ta vẫn phát triển và các quan hệ ngoại giao của ta với thế giới ngày càng tăng tiến ? Chính vì một thiểu số tham quyền cố vị đã quá thiển cận , chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt là bảo vệ quyền lực chính trị của cá nhân , gia đình và phe nhóm ; Thiểu số này đã áp dụng chính sách NGU DÂN , ngăn cản nhân dân tìm hiểu , kiểm soát triệt để mọi sự truyền bá tin tức , tư tưởng .. để không ai còn có cơ hội và phương tiện lật đổ độc quyền hoành hành của chúng .

A) Trước hết , chúng không dám để nhân dân tự do học hỏi vì sợ nhân dân biết rõ sự thật lịch sử . Sự thật đó là do ảnh hưởng của phong trào giải phóng thuộc địa lan tràn khắp thế giới sau Thế Chiến Hai, tất cả các nước thuộc địa , dù là ở trong Đế Quốc Anh , Đế Quốc Pháp , Đế Quốc Bỉ , Đế Quốc Hoà Lan , Đế Quốc Nhật , Đế Quốc Bồ Dào Nha hay Đế Quốc Tây Ban Nha .. đều lần luợt được trả lại độc lập , một cách mau chóng và toàn bộ hay tiệm tiến và từng phần . Khi Đảng Cộng Sản Việt Nam tuyên truyền trong nội bộ Đảng cũng như trong nhân dân là Đảng đã giải phóng nước ta khỏi ách đô hộ của Pháp quốc , Đảng đã " nói ngoa " vì thực ra là ngay từ năm 1948 , chính quyền Pháp đã hiểu rõ rằng Pháp không thể lập lại chế độ thuộc địa ở Đông Dương như trước năm 1939 . Nhưng Pháp không dám trả độc lập cho 3 nước Việt , Mên , Lào một cách chính thức vì hành động này sẽ có ảnh hưởng dây chuyền tức thì đối với các thuộc địa Pháp ở Phi Châu . Đối với Pháp , những thuộc địa Phi Châu mới thực sự quan trọng còn Đông Dương - cái thường được gọi là " hòn ngọc Viễn Đông " - dù có mất chăng nữa , cũng không thể gây nguy khốn cho sự tồn vong của Pháp . Vả chăng , trong thực tế , ngay từ năm 1942 , do sự chiếm đóng của quân đội Nhật Bản , Đông Dương đã thoát khỏi vòng kiểm soát của Pháp rồi . Chính vì vậy mà ngày 5 tháng 6 năm 1948 , một buổi lễ long trọng biến đổi tình hình Việt Nam đã được tổ chức trên tuần dương hạm Duguay Trouin ở Vịnh Hạ Long . Tham dự buổi lễ này , ngoài Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam do Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân cầm đầu , đến từ Sài Gòn , còn có Cựu Hoàng Bảo Đại , đến từ Hương Cảng nơi ông đang tỵ nạn . Trong buổi lễ , Cao Ủy Pháp ở Đông Dương Emile Bollaert đã nhân danh Chính Phủ Pháp , ký một bản Tuyên Ngôn Long Trọng , thừa nhận nền độc lập của quốc gia Việt Nam , gồm ba vùng Bắc Kỳ , Trung Kỳ và Nam Kỳ, từ nay đặt dưới quyền lãnh đạo của Tân Quốc Trưởng Bảo Đại . Nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam , lúc đó , núp sau danh hiệu Việt Minh , thực tâm tranh đấu để giải phóng đất nước thì phải tóm lấy cơ hội lịch sử này , cộng tác với Tân chính quyền Bảo Đại , đem toàn lực quân sự và chính trị của mình , để biến bản Tuyên Ngôn Vịnh Hạ Long thành một quy chế độc lập thật sự . Trong trường hợp này , Chính quyền Pháp có thể rút dần đoàn quân viễn chinh khỏi Việt Nam mà không sợ mất mặt : Việt Minh là chính đảng chống Pháp mạnh nhất lại được đa số nhân dân ủng hộ , dĩ nhiên vẫn giữ ưu thế trong chính quyền của tân quốc gia Việt Nam . Dân tộc ta có thể đem toàn thể nghị lực và tài nguyên xây dựng đất nước : rất nhiều cơ ta hơn hẵn các láng giềng như Thái Lan , Phi Luật Tân , Mã Lai ... hoặc ít nhất cũng không thua kém họ ! Khốn nỗi ...Hồ Chí Minh lại là một lãnh tụ cộng sản : đối với ông ta, mục tiêu chủ yếu là thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn Bán đảo Đông Dương còn giải phóng Việt Nam để được thực sự độc lập (trong Liên Hiệp Pháp) chỉ là thứ yếu ! Trong những tháng sau buổi lễ lịch sử ở Vịnh Hạ Long , họ Hồ và các đồng chí quyết định tiếp tục kháng chiến chống Pháp , khiến " giải pháp Bảo Đại " không thể đáp ứng nguyện vọng chấm dứt chiến cuộc của Pháp nữa! Đây là một quyết định vô cùng tai hại cho dân tộc ta vì Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản VN đã tách rời cuộc kháng chiến chống Pháp khỏi quan hệ song phương Pháp Việt để đặt cuộc chiến này trong khuôn khổ cuộc xung đột toàn cầu giữa Khối Tư Bản và Khối Cộng Sản . Quyết định này đã mở đường cho sự can thiệp của Trung Cộng , rồi của My,õ để đưa tới những biến cố bi thảm cho dân tôc ta, từ sự chia đôi lãnh thổ , tới cuộc chiến đẫm máu giữa hai miền Nam Bắc. Dù sau 1975 , sự tái thống nhất đã thực hiện được nhưng vết thương trong cơ thể và tâm hồn dân tộc vẫn chưa hàn gắn. Đau khổ nhất là ta đã bỏ phí gần nửa thế kỷ , hy sinh ba thế hệ để trở thành một trong ba nước nghèo túng nhất ở Đông Nam Á (2 nước kia là Cam Bốt và Lào)

Sự thật lịch sử là như vậy . Dĩ nhiên nhóm cầm quyền Cộng Sản không thể để cho nhân dân biết rõ : ngăn cấm nhân dân tìm hiểu chuyện cũ , bắt buộc mọi người phải thuộc lòng luận điệu được đưa ra trong các sách giáo khoa , đó là cách hữu hiệu nhất để duy trì huyền thoại là Đảng Cộng Sản đã đem lại độc lập cho dân tộc Việt !

B) Ngay đối với những biến cố thời sự , nhóm cầm quyền Cộng Sản cũng không dám cho nhân dân biết rõ : người dân chỉ được đọc những gì mà Nhà nước cho phép báo chí đăng tải , được nghe những gì mà đài phát thanh của Nhà Nuớc cho nghe, thấy những hình ảnh gì mà Đài Truyền Hình của Nhà nước cho thấy ... Tại sao ? Vì họ sợ rằng nhân dân sẽ biết rõ là tình hình thế giới đã thay đổi sâu xa : các chế độ cộng sản ở Âu Châu lần lượt theo nhau giải thể . Trong thế giới , ngoài Trung Hoa chỉ còn các nước Cu Ba , Bắc Cao , Lào và Việt Nam là giữ nguyên quy chế cộng sản mà thôi . Một khi biết rõ như vậy , làm sao người dân Việt không nao núng ? Làm sao người ta không mong mỏi là chế độ cộng sản Việt Nam sớm giải thể để dân ta biến thành một nước dân chủ như các nước Đông , Trung Âu ? Nhưng nếu sự việc này xẩy ra , thì nhóm người đương quyền làm sao còn giữ được địa vị , thế lực và các lợi lộc họ đang hưởng ?

C) Đừng tưởng rằng chính sách " ngu dân " chỉ áp dụng đối với nhân dân ngoài Đảng mà thôi ! Đảng Cộng Sản Việt Nam có khoảng 2 triệu 3 trăm nghìn đảng viên . Ta có quyền tin rằng trong số này chỉ có một thành phần nhỏ , gồm các cán bộ lãnh đạo hay chỉ huy ở cấp trung ương , các cấp tỉnh , thành phố , cấp huyện hoặc trong ban quản lý các xí nghiệp Nhà nuớc là được quyền biết rõ tin tức , tìm hiểu sự thật . Họ có thể nghe các đài phát thanh , xem các đài truyền hình , đọc sách báo ngoại quốc. Họ cũng có thể liên lạc qua mạng lưới internet với các nơi mà không sợ bị Công An phiền nhiễu . Họ còn có nhiều cơ hội ra nước ngoài tham quan , hoặc tham dự hội nghị ; đa số có con em du học ở Âu , Mỹ , Úc ...Đây là thành phần " quý tộc " của chế độ. Dĩ nhiên , họ chỉ là một thiểu số ; Họ có thể bất đồng ý kiến về nhiều vấn đề nhưng chắc chắn vẫn liên đới với nhau vì thế lực và quyền lợi của họ gắn liền với sự tồn tại của chế độ . Hầu hết những đảng viên khác cũng không hơn gì kẻ ngoài Đảng trong lĩnh vực truyền thông . Ta không ngạc nhiên chút nào khi thấy họ phát biểu ý kiến giống hệt các cơ quan truyền thông của Nhà nuớc . Lẽ dễ hiểu : nếu họ đi chệch đường , họ cũng có thể bị trừng phạt như bất cứ thường dân nào khác . Họ còn có thể bị loại ra khỏi Đảng và đây là điều mà họ sợ nhất .

Điều đáng để ý là chính đám đảng viên " cơ sở " này mới thường có xu hướng " bảo hoàng hơn vua " . Họ chỉ có một số kiến thức rất sơ sài về lý thuyết cộng sản , do đó họ coi những điều đã học tập về giai cấp đấu tranh , về duy vật sử quan , về sự thành tựu tất yếu của chế độ xã hội chủ nghĩa v.v.. là những chân lý tuyệt đối . Thấy kẻ nào ngoài Đảng nghi ngờ hay chỉ trích những giáo điều ấy , họ không ngần ngại báo cáo cho công an và cho thượng cấp Chính nhờ ở đám đảng viên cơ sở này mà nhóm cầm quyền cộng sản có thể ngăn chặn mọi mầm mống chống đối ngay từ lúc manh nha : thật chẳng khác chi họ có hàng triệu tai mắt hiện diện khắp hang cùng ngõ hẻm để kiểm soát nhân dân .

Sự phân tích vừa rồi cho ta thấy rõ là việc nắm vững lĩnh vực truyền thông có tầm quan trọng sống còn đối với chế độ cộng sản : nếu cởi mở , nều nới lỏng ...lập tức toàn thể chế độ có thể bị dao động, có khả năng tan rã . Chính vì thế mà ta không thể trông mong ở thiện chí của những kẻ đương quyền , hy vọng hão huyền rằng họ sẽ phục thiện và tự ý bãi bỏ sự kiểm soát hiện hành . Nhưng cái may cho nhân dân ta , là kỹ thuật truyền thông đã tiến bộ một cách cực kỳ mau chóng , khiến cho sự kiểm soát của nhóm cầm quyền cộng sản ngày càng mất hiệu quả . Ta chỉ cần duyệt lại một số thí dụ .

Thí dụ thứ nhất là các máy radio . Từ ngày có những radio chạy bằng pin , cỡ nhỏ có thể bỏ túi , giá bán rất rẻ , thì bất cừ ngưới dân nào , kể cả những người cư ngụ trong các vùng hẻo lánh , đều có thể nghe chương trình việt ngữ của những đài ngoại quốc danh tiếng như BBC , VOA , RFA , RFI, v.v.. Nhờ vậy mà dân ta đã có thể biết rõ tình trạng quốc tế cũng như quốc nội : nhà cầm quyền không thể dấu diếm , bóp méo sự thật như trước nữa . Điều đáng cho ta phấn khởi , là nhờ những chương trình phát thanh này , trình độ kiến thức về chính trị , về nhân quyền , về kinh tế .. của nhân dân , ngày càng tăng tiến . Họ sẽ dần dần ý thức được quyền làm chủ của họ , và không để cho nhà cầm quyền áp chế nữa . Đó là điều kiện tất yếu của chế độ dân chủ tự do .

Thí dụ thứ hai là các chương trình truyền hình phổ biến qua vệ tinh . Những người có phương tiện mua các loại máy T.V. tân tiến có thể bắt dễ dàng những chương trình này . Họ có thể thấy tận mắt , nghe tận tai .. những gì trước kia chỉ là độc quyền của một số đảng viên " quý tộc " có khả năng xuất ngoại .

Thí dụ thứ ba là máy điện thoại di động càng ngày càng phổ biế:n trong dân chúng vì giá bán tương đối khá rẻ . Kinh nghiệm cho thấy là nhờ những máy điện thoại di động này mà mỗi khi xẩy ra một vụ bắt bớ , khám xét hay đàn áp , lạm quyền của nhà chức trách ở những địa phương xa xôi - chẳng hạn trên Cao Nguyên Trung Phần - dư luận trong nước và ngoài nước được cấp báo ngay . Do đó hải ngoại và quốc tế có thể can thiệp kịp thời để ngăn chặn những hành động phản dân chủ này.

Thí dụ sau cùng là hệ thống internet . Số người có máy vi tinh ở nước ta ngày càng đông vì đó là một khí cụ cần thiết cho mọi doanh nghiệp , mọi cơ quan giáo dục .. chứ không thể dành riêng cho các công sở , công an , quân đội v.v.. Bằng tín điệp điện tử , người dân có thể liên lạc cực kỳ mau lẹ với khắp nơi trên thế giới . Khỏi cần nói là nhà cầm quyền cộng sản rất e ngại hậu quả của tình trạng này : họ đã cố gắng thiết lập hàng rào ngăn chặn ( firewall ) cũng như ra quyết định bắt các nhà cung cấp dịch vụ internet phải ghi lý lịch của người xử dụng ... Những biện pháp này , thực ra không thể mang lại kết quả mong muốn . Nó chứng tỏ là mạng lưới internet đã gây nhiều khó khăn cho nhà cầm quyền và rồi đây còn có thể gây nhiều khó khăn hơn nữa .

Để kết luận ta có thể đoán trước rằng do những tiến bộ vượt bực trong kỹ thuật truyền thông và đòi hỏi ngày càng mạnh mẽ của dân chúng về tự do truyền thông, chế độ độc tài của thiểu số cầm quyền ở Việt Nam sẽ không thể tồn tại . Nếu họ sớm thức tỉnh , sửa sai kịp thời , thì mới tránh được những hậu quả khó lường cho riêng họ cũng như cho toàn đảng Cộng Sản./

-- HO ACQUY (ho acquy@chong cs ancuop .com), July 18, 2004.


Moderation questions? read the FAQ