Toi muon biết v� cuộc chien tranh VN-China!

greenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread

Xin chào toi that ra rat ghet Trung Quoc,vay ai co tai lieu ve cuoc chien nay xin cho toi biet nhe,nhu thong tin,tu vong 2 ben,nguyen nhan dien ra cuộc chiến....nếu có hình ảnh thìtốt.Xin đưng xuyen tac hay noi dung su that,nhu giup do ttoi hoan thien kien thuc lich su cua minh,nhu giup do mot nguoi Viet Nam nhu may ong,ko phan biet chinh tri.�ừng noi xau vn trong bai viet nay nhe,cam on,trong cac bai truoc toi co luc qua khich nen da lon tieng,xin loi,mong cac ong cung nhu the,dung chui nhau nua.Nguoi Viet Nam chung ta dung CHỬi nhau nưa,OK.

-- (kidfriendct@yahoo.com), June 26, 2004

Answers

Response to Toi muon biết vá»� cuộc chien tranh VN-China!

Chu em may dang o VN phai kh? Muon biet ve Co-Su (ancient history) giua DanToc ta va nuoc Tau, chu em may cu viec di kiem may cuon sach Lich-Su pho-bien tai cac truong Tieu-Hoc va Trung-Hoc Mien Nam (VNCH) ngay xua doc la hieu biet. Nhung sach nay co sao noi vay, khong them hay bot cho hop voi nhan-sinh-quan XHCN hay TBCN gi ca, lai cung khong co "tinh dang" hay "tinh giai-cap" con me gi rao nhu tat ca cac sach day Lich-su ngoai mien Bac, thoi VNDCCH!

Con ve Tan-Su, cu xem la tu ngay thanh-lap nuoc VNDCCH den nay thi chu em vao day: http://www.danchu.net/GeneralAdmin/0.TrangBienGioi.htm

Khong biet chu em co bi bon HeoCho kicked off ra khong, vi bon HeoCho khong biet doc tieng Nguoi!

-- TrungNam (Phoenix@VietCongHuntingClub.org), June 26, 2004.


Response to Toi muon biết vá»� cuộc chien tranh VN-China!

Ua ,ni la nguoi hoa sao ma biet tieng tau gioi qua vay ni ?..Ni bao con em chay di qua trung quoc doc bao danchu vay ni. ?co em nay la viet nam sao doc tieng tau duoc chu vay ni?..

-- Nong bi dai' (vietnamcongsans@yahoo.com), June 26, 2004.

Response to Toi muon biết vá»� cuộc chien tranh VN-China!

Tài liệu giải mật về cuộc chiến Hoa Việt 1979

Lâm Lễ Trinh, Aug 16, 2003

Lý do - Quyết định - Hậu quả và những bài học tương lai Để bao vây Trung quốc và làm suy yếu thế lực của Hoa Kỳ tại Á châu, tháng 6.1969 Leonid Brezhnev đề nghị với các quốc gia, từ Trung Đông đến Nhựt Bổn, hình thành một tổ chức an ninh chung bảo vệ hòa bình và an lạc trong khu vực. Riêng ở Đông dương, chủ đích của Nga là hất ảnh huởng Mỹ và Tàu ra khỏi bán đảo, kiểm soát vịnh Cam Ranh và các hải cảng chiến lược, hỗ trợ các đảng và thể chế mạc xít, đồng thời đặt các nước Đông dương trong vòng lệ thuộc Điện Cẩm Linh bằng cách viện trợ quân sự và kinh tế. Kế hoạch này thành công. Việt Nam là trường hợp điển hình.

Lê Duẩn đã trở nên con gà nòi của Mạc Tư Khoa. Sau ngày "giải phóng Sàigòn" Liên Sô tăng số cố vấn tại Lào từ 100 lên 500, giúp 500 triệu mỹ kim cho ngân sách VN tài khóa 1976 và 3 tỷ đô la cho kế hoạch ngũ niên 1976-1980 của Hà nội. Bắc Kinh, trong lúc đó, chỉ viện trợ tượng trưng 200 triệu, báo tin không cấp ngân khoản mới cho 1977 và ngày 27.9.1976, tại diễn đàn Liên Hiệp quốc, Ngoại trưởng Kiều Quán Hoa một mặt tố Nga trám khoảng trống ở Á châu và mặt khác, cảnh cáo các thành viên Đông Á đừng bao giờ "đón cọp vào ngã sau trong khi đuổi chó sói ra cửa trước". Với ước mong được thu nhập vào COMECON, Hội đồng Tài trợ Kinh tế Hỗ tương CS, Hà nội theo sát con đường Sô viết chống Tàu. Khi Đảng Lao động VN nhóm Đại hội lần thứ 4 tại Hà nội, cuối 1976, đưới sự giám sát của lý thuyết gia Mikhail A. Suslov, trưởng phái đoàn Sô viết, thì đa số ủy viên trong Chính trị bộ đã nối đuôi Lê Duẩn thần phục Mạc Tư Khoa: Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoan, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Linh, Tố Hữu, Đỗ Mười... Những phần tử như Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, trước kia đứng giữa, nếu không nói là thiên Bắc kinh, đều chuyển hướng. Hoàng Văn Hoan bị khai trừ, trốn sang Tàu và lãnh án tử hình khiếm diện. Một số không ít như Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, Võ Chí Công và Chu Huy Mẫn phải đổi phía để sống còn. Ngay cả Trường Chinh củng tỏ ra ôn hòa hơn. Cuối 1977, sau khi tham khảo ý kiến Trung quốc, Cam Bốt đoạn giao với VN. Đầu năm 1979, số cố vấn và chuyên viên sô viết tại VN tăng từ 5000 lên 8000. Nhiều diễn biến dồn dập xẩy ra, khiến cho Bắc kinh và Hà nội không tránh được đụng độ trực tiếp:

+Lý do đụng độ Việt - Hoa.

Tổng quát, có bốn lý do chính yếu:

1.- Liên sô xử dụng Vịnh Cam Ranh và ký Hiệp ước thân hữu với VN. Tháng 6.1978, không khí căng thẳng khi Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình báo tin hủy bỏ viện trợ cho VN, phản đối việc trục xuất 110.000 người Việt gốc Hoa và công bố Trung quốc đã giúp cho CSVN hơn 20 tỷ mỹ kim từ 1950 đến 1978. Hà nội liền tố ngược các lãnh tụ Tàu là phản động. Hai quốc gia CS Albania và Lào cũng hùa theo chỉ trích Bắc Kinh. Đồng thời, Phạm Văn Đồng lên tiếng xin bình thường hóa bang giao với Hoa Kỳ. Mười hôm sau, giới truyền thông rầm rộ tung tin Liên sô được phép lập căn cứ quân sự tại Cam Ranh và Đà nẵng. Phần thưởng của sự nhân nhượng này là Mạc Tư Khoa bựt đèn xanh cho Hà nội xúc tiến thực hiện và điều khiển "Liên bang Đông Dương".

Ngày 3.11,1978, Nga và Việt ký Hiệp ước Thân hữu và Hợp tác, trong đó điều 6 đặc biệt ghi rằng đôi bên sẽ áp dụng "các biện pháp thich nghi và hữu hiệu để bảo vệ hòa bình và an ninh" nếu một trong hai nước bị đe dọa hay tấn công. Trong dịp viếng Thái Lan, Đặng Tiểu Bình sỉ vả VN là "Cuba của phương Đông", bắt tay với đế quốc để xây mộng bá chủ và đe dọa Thái Bình Dương và Thế giới.

2.- VN chiếm đóng Cam Bốt. Tại Hội nghị Genève 1954, Chu Ân Lai thuyết phục Phạm Văn Đồng cho rút quân khỏi Cam Bốt và công bố tôn trọng chủ quyền nước này. Năm 1958, Bắc kinh và Nam Vang trao đổi sứ thần và ký Hiệp ước hữu nghị và bất xâm phạm. Tháng 11.1963, sau vụ đảo chính TT Ngô Đình Diệm, Sihanouk yêu cầu các cơ quan Mỹ rời xứ Chùa Tháp và Trung quốc cảnh cào Hoa Kỳ không được xâm nhập đồng minh nhược tiểu này. Tháng 3.1970, tướng Lon Nol lật đổ Sihanouk. Một tháng sau, các dân tộc Đông dương nhóm thượng đỉnh tại Guangzhou gồm có Bắc Việt, Pathet Lào và Khờ me Đỏ (lúc đó còn liên kết với Sihanouk). Khờ Me Đỏ nhận viện trợ của Bắc kinh và tuy không tin Hà nội, vẫn liên tục cấp nơi ẩn nấp cho các lực lượng Việt cộng mỗi khi chúng bị Quân đội VNCH đẩy lui. Vì lý do lịch sử, địa dư và chiến thuật, Cam Bốt đã từng là chư hầu của VN. Miên luôn luôn lo sợ bị nuốt trửng ngay trong những năm cộng tác thân thiện với Hà nội (1970 - 1975). Sau tháng 4.1975, Khờ Me Đỏ hoàn toàn trông cậy vào sự che chở của Trung quốc. Tháng 9.1975, Chu Ân Lai sắp xếp cho Sihanouk trở về Nam Vang "để đuổi Bắc Việt ra khỏi xứ " nhưng ê kíp Pol Pot, Ieng Sary và Khieu Samphan nhất quyết đốt giai đoạn biến Cam Bốt đầu hôm sớm mai thành một "nước xã hội chủ nghĩa vẹn toàn", bất chấp lời khuyên của Chu. Những biện pháp quá khích được đem ra thi hành gấp làm cho xứ hỗn loạn. Tháng chạp 1976, khi phái đoàn chuyên viên Tàu của Fang Yi sang giúp Miên thì đã quá chậm: quần chúng kiệt sức, thợ thuyền, công chức và trí thức bị tiêu diệt, quân đội tan rã, gần 4000 lính Miên (do Việt cộng huấn luyện năm 1976) bị tẩy trừ. Từ 1975 cho đến 1978, Chính phủ Khờ Me Đỏ đòi bộ đội Việt rời xứ nhưng các đơn vị này chỉ di tản về biên giới và tại đây, hai bên nhiều lần đụng độ đẫm máu.

Theo sự tiết lộ của Hoàng Tùng, tổng biên tập báo Nhân Dân và ủy viên Chính trị bộ, Bắc bộ phủ đã có ý đồ chiếm Cam Bốt từ 1970 - 1972. Cuối 1976, Đại hội 4 Đảng Lao Động nhóm để đổi tên thành Đảng CS Việt Nam và chấp thuận đề án của Lê Duẩn xúc tiến việc thiết lập Liên bang Đông Dương bằng cách thuyết phục và nếu cần, áp lực quân sự Miên và Lào gia nhập. Tháng 2.1978, Ủy ban Trung ương quyết nghị xóa chế độ Pol Pot qua 4 giai đoạn: tố cáo đường lối khát máu của Khờ Me Đỏ, tấn công Bắc kinh viện trợ Nam Vang, xúi dân Miên nổi loạn và tận dụng lá bài Sô viết. Ngày 7.1.1979, với sự đồng ý và hỗ trợ vũ khí của Mạc Tư Khoa, 100.000 quân Việt tràn ngập Cao Miên và toàn thắng sau 2 tuần lễ. Trung quốc không can thiệp, để tránh lún vào vũng lầy chiến tranh như Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình cảnh cáo rằng trong tương lai, Bắc kinh sẽ "lấy những quyết định ngoài ý muốn vì hòa bình". Theo tạp chí Tàu cộng Geng Biao, 1.500 Hoa kiều bị kẹt lại ở Cam Bốt và phần đông đã gia nhập hàng ngũ Khờ Me Đỏ để chống VN. Ngày 8.1. 79, Hội đồng Nhân Dân Cách Mạng, do bù nhìn Heng Samrin cầm đầu, được Hà nội công nhận. Chính quyền Thái thận trọng đứng ngoài. Lời kêu cứu của Sihanouk với Liên Hiệp Quốc rơi vào sa mạc. Pol Pot rút vào rừng để kháng chiến. Ngày 18.2.1979, Miên và Việt ký Hiệp ước Thân hữu và Hợp tác có giá trị 25 năm, công khai hóa việc quân đội Việt chiếm đóng Cộng hòa Nhân Dân Cam Bốt và đặt chính thức xứ này dưới chiếc dù quân sự của Hà nội. Trước đó hai năm, ngày 18.7.1977, Lào và VN đã ký một Hiệp ước hữu nghị tương tợ. Liên bang Đông Dương thực hiện xong. Bằng võ lực.

3.- Tranh chấp Việt - Hoa về lãnh thổ. Từ lâu, đề tài cãi vã giữa VN và Trung quốc xoay quanh ba khu vực:

a)- Một biên giới chung dài trên 797 cây số, được thực dân Pháp và Trung Hoa ấn định năm 1887 trong một Thỏa ước và bổ túc năm 1895. Cuối thập niên 70, cả Hoa và Việt khiếu nại lẫn nhau về vị trí của 300 cột trụ phân ranh.

b)- Vịnh Bắc Việt, còn gọi là Beibu Gulf / Bắc Bộ Gulf hay Gulf of Tonkin. Hai Thỏa ước vừa kể không nói rõ lằn ranh thuộc phần kiểm soát của mỗi nước. Tháng 10.1977, cuộc hội nghị tại Bắc kinh không giải quyết được dứt khoát vấn đề.

c)- Gây cấn nhất là chuyện dành hai nhóm quần đảo Hoàng Sa (hay Paracels/Xisha) và Trường Sa (hay Spratlies/Ninsha). Khu vực này hệ trọng cho cả Trung quốc và VN về chiến thuật và dầu khí. Hoàng Sa, Trường Sa, cùng với một số đảo lân cận khác như Pratas Reef và Macclesfield là những trạm thông thương giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Bởi thế Phi Luật Tân, Đài Loan, Nam Dương, Nhựt, Brunei v..v.. cũng đòi chia phần. Mỹ và Nga theo sát vấn đề. Nga nắm thế thượng phong vì kiểm soát được Vladivostok, Cam Ranh và Đà nẵng. Ngày 4.9.1958, Bắc Kinh công bố chủ quyền trên Trường Sa và Hoàng Sa. Mười hôm sau, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi công văn cho Chu Ân Lai xác nhận Chính phủ VN đồng ý. Năm 1977, Đồng nói trớ lại rằng công văn này vô hiệu vì ký trong thời chiến! Quân đội VN đã tái chiếm được 6 đảo nhỏ. Từ 1974 cho đến 16.2.1979, theo Renmin Ribao, số ra ngày 14.5.1979 và bản ghi chép "SRV Memorandu " đề ngày 16.3.1979, có tất cả 3535 vụ xô xát Việt -Hoa tại biên giới (trong sổ sách Trung cộng) và 4333 vụ (chiếu tài liệu Việt cộng).

4.- Hà nội trục xuất Hoa kiều làm cho tình hình căng thẳng tột độ. Đa số Hoa kiều tại VN di cư từ hai tỉnh Quảng Đông va Phước kiến, sau Trận giặc Nha phiến (1840- 1842). Họ cần cù làm ăn, sống đoàn kết và không tham gia chính trị. Tại Nam Việt, trước 1975, hơn phân nửa tổng số 1.300.000 người Hoa ủng hộ Chính phủ quốc gia. Sau Tết Mậu thân 1968, từ 75 đến 80% không có thiện cảm với CS. Chỉ một số ít hoạt động cho Hà nội. Trước 1975, năm người Việt gốc Hoa được bầu vào Hạ Viện. Tại Chợ lớn, người Hoa tổ chức thành 5 bang: Quảng Đông, Phước kiến, Triều châu, Hẹ và Hakka, mỗi bang được đại diện bởi một bang trưởng chọn theo lối đầu phiếu. Họ có một Phòng Thương mãi, một bệnh viện đặt tên Chung Cheng, một số trường học và báo chí. Tháng 8.1956, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh buộc Hoa kiều bỏ quốc tịch Tàu và nhập tịch VN nếu muốn tiếp tục hành nghề. Tháng 4.1957, thẻ lý lịch ngoại quốc bị coi như vô giá trị. Sau 30.4.1975, Hà nội áp dụng một loạt cải cách kinh tế và xã hội để bần cùng hóa dân Nam. Hoa kiều bị thiệt hại nặng nhất vì có của. Chiến dịch đánh giới trung lưu mái chính compradores (1975), các quyết định liên tiếp quốc hữu hóa công kỹ nghệ và thương mãi, nhiều lần đổi tiền bất chợt (1975 và 1978), việc đưa dân Bắc ào ạt định cư trong Nam.v..v.. làm cho thiểu số này nhanh chóng kiệt quệ.

Đầu 1977, Việt - Hoa căng thẳng. Chính quyền Hà nội đuổi người Tàu sống tại các tỉnh biên giới về Trung quốc. Tháng 5. 1978, trong vòng 13 hôm, con số này vượt lên đến 57.000, không kể 320.000 người bị đẩy đi vùng kinh tế mới và 50.000 bị tịch thu tài sản. Nhà Nước CHXHCN còn công bố cho phép ra đi vĩnh viển những ai mang chiếu khán Hồng kông, Đài Loan hay Pháp. Ngày 29 tháng 6, VN chính thúc gia nhập COMECON, Bắc kinh liền cúp viện trợ hoàn toàn, hồi hương 880 chuyên viên và đóng cửa Sứ quán. Hà nội ra lệnh cho Tòa Tổng lãnh sự Tàu ngưng hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh. Ba lãnh sự quán Việt ở Nam Ninh, Côn Minh và Quảng Đông củng phải rút lui. Từ tháng 9. 1978, trong Tạp chí CS và tờ Quân Đội Nhân Dân, nhà cầm quyền Việt Nam bắt đầu kêu gọi dân chúng sẵn sàng chống lại "chủ nghĩa bành trướng của nước lớn và ý đồ bá quyền của bọn Hán phong kiến." Liên hệ Việt - Hoa "môi hở răng lạnh" tan thành mây khói. Câu nói của Hồ "Việt và Hoa vừa là bạn, vừa là anh em" chua cay hơn lúc nào hết.

+Đặng Tiểu Bình chuẩn bị chiến tranh.

Chu Ân Lai qua đời đầu năm 1976 và Mao Trạch Đông, chín tháng sau. Nội tình Trung quốc xáo trộn vì ba sự kiện hệ trọng:

1.- chiến dịch sôi nổi chống nhóm Tứ Quái của Jiang Qing, vợ Mao, đầu não xách động Cách Mạng Văn Hóa.

2.- việc thi hành chậm trễ kế hoạch Bốn Hiện Đại Hóa do Chu đề xướng để canh tân kỹ nghệ, canh nông, quốc phòng và khoa học.

3.- sự tranh quyền ráo riết giữa Đặng Tiểu Bình và Tổng bí thơ Hoa Quốc Phong, lãnh tụ của "Phe Bất Cứ Gì" (=bất cứ gì chủ tịch Mao nói và làm đều đúng cả!). Cuối 1978, sau hai lần bị khai trừ, Đặng phục hồi quyền lực, nắm đa số trong Chính trị bộ và Ủy ban trung ương Đảng CS, giữ chức Tổng tư lệnh quân đội, thi hành chính sách của Chu và xét lại đường lối Mao ít. Đặng bắt tay nghiên cứu cách giải quyết khủng hoảng với láng giềng VN. Trung quốc cảm thấy bị đe dọa trong quyền lợi và thách đố bởi một nước đàn em hung hăng, phản bội và tự hào là nước mạnh quân sự thứ ba trên địa cầu.

Theo Gs Irving Janis và Leon Mann, Đặng Tiểu Bình hành động thực tế và thận trọng qua 3 giai đoạn. Trước hết, thu thập đầy đủ dữ kiện bên ngoài (chiến lược toàn cầu của nước Tàu, chiến lược Đông dương của VN, sự nhúng tay của Liên sô, vấn đề Cam Bốt, tranh chấp biên giới, Hoa kiều tại VN, yếu tố Hoa Kỳ, dư luận thế giới) và dữ kiện bên trong như: lợi ích và các giá trị của Trung quốc, phản ứng tâm lý quần chúng trong nước, khả năng của quân đội Tàu, ảnh hưởng chiến tranh đối với mức phát triển kinh tế quốc gia..v..v.. Thứ nữa, tham khảo ý kiến và đạt được sự đồng thuận của các cơ cấu trong đảng CS: Chính trị bộ, Ủy ban Trung ương và Quân ủy Hội. Sau hết, hành động để giữ vững quyết định đến cùng.

Hà nội ký Hiệp ước Hữu nghị với Liên sô và cưỡng chiếm Nam Vang là hành động khiêu khích thêm, buộc Bắc kinh phải trả đũa. Ngày 15.12.1978, Hoa Kỳ công nhận Trung Hoa. Đặng Tiểu Bình liền bay qua Hoa Thịnh Đốn hội kiến với Tổng thống Jimmy Carter, báo tin riêng sẽ tấn công VN và trấn an Mỹ rằng nhà cầm quyền nước ông biết tự chế. Ngày 1.1.1979, hai nước bang giao chính thức. Đặng cũng viếng Nhựt và một số quốc gia Đông Á để dò xét phản ứng. Tất cà đều lo ngại về ý đồ tương lai của Việt cộng, đồng minh của Mạc Tư Khoa. Trở về Bắc Kinh, Đặng điều chỉnh kế hoạch. Thay vì gởi quân qua Cam bốt giúp Khờ Me Đỏ và để tránh mang tiếng với Thế giới là "mưu đồ bành trướng", Trung quốc quyết đánh thẳng vào VN dưới hình thức "phản công tự vệ", không dùng hải lực không quân, trong một thời gian giới hạn và chỉ nhắm vào vùng biên giới. Đặng muốn dạy cho nhóm lãnh tụ tại Bắc bộ phủ "một bài học quân sự đich đáng".

Mục phiêu thật của "sự trừng phạt" là gì? Tiêu hủy vài sư đoàn, căn cứ chiến lược hay chiếm một giải đất biên phòng của đối phương? Đặng không cho biết thâm ý. Dù sao, theo học giả King C. Chen, "chiến tranh trừng phạt, the Punitive War" tượng trưng cho chính sách đối ngoại của Bắc Kinh tại Á châu từ 1949. Hành quân năm 1979 chống VN được chuẩn bị chu đáo như cuộc đụng độ Hoa - Ấn năm 1962 và không hấp tấp như trường hợp Trung cộng tham chiến ở Triều tiên hay vụ Nga sô can thiệp ở Tiệp khắc và Hung Gia lợi.

(Xin đọc tiếp đoạn 2 )

-- (tosu_cs@yahoo.com), June 26, 2004.


Response to Toi muon biết vá»� cuộc chien tranh VN-China!

(tiếp bài Cuộc chiến Hoa Việt 1979)

+Bài học quân sự 1979.

Năm 1938, Mao giải thích như sau quan điểm của Lê nin về chiến tranh: "Khi chính trị mở rộng đến mức không còn tiến tới được bằng đường lối thông thường thì chiến tranh bùng nổ để san bằng các trở ngại gặp phải". Lê nin từng viết: "Chiến tranh chỉ là chính trị nối tiếp bằng những phương tiện khác". Câu này dựa vào ý kiến của Karl Von Clausewitz: "Chiến tranh không phải là hành vi đơn giản của chính sách mà là một lợi khí chính trị đích thực, một sự tiếp tục của hoạt động chính trị với phương thức khác". Cuộc chiến để sát phạt VN, dù núp dưới danh xưng phản công tự vệ, được khởi xướng đúng theo chủ trương trên đây. Các lãnh tụ Trung quốc đã cân nhắc quyết định của họ hai năm (1977-1979), với hy vọng bình thường hóa bằng võ lực mối bang giao Hoa - Việt. Muốn thành đạt, chiến tranh nhân dân cần hội một số điều kiện: đảng và quân thống nhất, quần chúng hỗ trợ, đất nước hậu tiến, vũ khí quy ước, kỹ thuật lạc hậu, ngoại xâm đe dọa và đấu tranh trường kỳ.

Trước tháng 2.1979, Trung quốc có 3,600.000 quân nhân tại ngũ và 175 sư đoàn tại 11 vùng chiến thuật. Võ khí gồm có 10.000 chiến xa, 20.000 giàn phóng hỏa tiễn, 16.000 cà nông và phương tiện chuyên chở rất lạc hậu. Hải quân có 30.000 thủy thủ, 75 tiềm thủy đỉnh. Hạm đội Bắc Hải có 300 chiến hạm, Đông hải: 450 và Nam hải: 300. Lực lượng không quân có 400.000 phi công, 5000 chiến đấu cơ cũ và lỗi thời, loại Mig 15,17,19 và 80 Mig 21. Đặng Tiểu Bình là Tổng Tư lênh hành quân, với 2 phụ tá Xu Xiangqian và Nie Rongzhen, tướng Gen Biao giữ chức Tham mưu trưởng. Về phía VN, tổng quân số lên đến 600.000 phân chia 200.000 tại Cam bốt, 100.000 tại Lào, 100.000 tại Nam Việt, và 200.000 ở Bắc Việt. Xung quanh Hà nội có 5 sư đoàn và 4 lữ đoàn. Dài theo biên giới Trung hoa, VN có 150.000 dân quân tổ chức thành 6 sư đoàn địa phương và một trung đoàn. Không lực Việt có 300 chiến đấu cơ (70 Mig 19, 21 Mig 70, và một số F 5 tịch thu của Mỹ năm 1975). Hải quân Việt có 2 chiếc PETYA Sô viết với hỏa tiến chống tiềm thủy đỉnh, và 60 tàu tuần tiễu.

Cuộc "hành quân sát phạt" kéo dài 16 ngày, chia thành 2 giai đoạn:

1)- Từ 17 đến 26.2.1979. Ngày 17 thàng, lúc 5 giờ sáng, theo chiến thuật "biển người", 100.000 Tàu cộng, được chiến xa hỗ trợ, tràn vào Lạng Sơn, (phía Đồng Đăng), Cao Bằng, Đồng Khê, Mông Cáy, và Lào Cai sau khi pháo kích mãnh liệt. Sự tiến quân, mau lẹ lúc dầu, lần hồi bị địa phương quân Việt chận lại và bao vây. Các đơn vị chính quy VN tập trung về phía Nam Cao Bằng và Lạng Sơn để đánh tiêu hao những sư đoàn đối phương. Số tổn thương của hai bên đều nặng nhưng khó kiểm chứng. Phía Trung quốc chiếm được Lào Cai, Cao Bằng và chuẩn bị tấn công Lạng Sơn nhưng không có ý định tiến về Hà nội. Đồng thời, Bắc Kinh công bố sẽ rút quân đội "sau khi hoàn tất mục tiêu". Trong thời khoảng đó, Liên Sô đưa 7 chiến hạm tuần tiễu dài theo hải phận VN và ngày 21 tháng 2, gởi tuần dương hạm Sverdlov và một khu trục hạm Krivak vào Nam Hải. Vũ khí Nga được không vận từ Calcutta và một phái đoàn quân sự sô viết bay qua Hà nội. Mạc Tư Khoa yêu cầu Tàu rút binh.

2)- Từ 27.2 đến 5 tháng 3. Chiến cuộc tiếp diễn ở Lào Cai, Cao Bằng và Mông cáy nhưng tập trung mạnh nhất vào Lạng Sơn, cách Đèo Hữu Nghị lối 10 dặm và Hà nội 85 dặm. Với hai sư đoàn mới đến từ Đồng Đăng và Lộc Bình, Trung cộng vất vả tấn công các ngọn đồi quanh tỉnh. Việt cộng chống cự mãnh liệt và còn đột nhập vào ba thị trấn Guangxi, Malipo và Ninping ở bên kia biên giới. Ngày 3 tháng ba , Lạng Sơn thất thủ. Đồng Đăng và Cẩm Dương bị san bằng nhưng các đơn vị Việt tiếp tục đánh tại Lộc Bình và Mông cái. Ngày 5 tháng 3, Chính quyền Bắc Kinh một mặt công bố đã chiếm được các tỉnh lỵ Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai và 17 quận, gây thiệt hại nặng cho 4 sư đoàn Việt và mặt khác, cảnh cáo Hà nội không được cản trở sự rút lui của Quân đội Nhân dân Trung quốc. Cùng một ngày, Bắc bộ phủ tổng động viên toàn quốc. Ngày 7 tháng 3, VN xác nhận đồng ý cho đối phương rút quân "để tỏ thiện chí hòa bình". Tại Nga, Thủ tướng Kosygin và Tổng bí thơ Brezhnev cực lực lên án Trung quốc, tiếp tục cho không vận võ khí và canh chừng hải phận VN. Cuba cho biết sẵn sàng gởi quân trợ chiến Hà nội. Tại Liên Hiệp Quốc, với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, khối Asean kiến nghị đòi "các lực lượng ngoại quốc rút ra khỏi khu vực" mà không lên án Bắc Kinh. Ngày 16.3.1979, không còn đơn vị Tàu cộng nào ở VN. Theo tinh thần kiến nghị Asean thì VN tại Cam Bốt cũng phãi hồi hương quân đội chiếm đóng. Hội Đồng An ninh LHQ rốt cuộc không có ra quyết nghị nào. Một nhà ngoại giao chua chát phê bình: "Khi tranh chấp xẩy ra giữa các đại cường, Liên Hiệp Quốc biến mất!".

+Thẩm lượng "bài học quân sự 1979

1.- Thiệt hại của đôi bên. Dưới đây là bản kê khai thiệt hại căn cứ vào tài liệu mỗi phía, trích từ quyển sách "China's War With Việt Nam, 1979" của Gs King G. Chen , trang 114:

Trung quốc Việt Nam

Tử thương 26.000 30.000

Bị thương tích 37.000 32.000

Tù chiến tranh 260 1.638

Chiến xa, quân xa 420 185

Bích kích pháo, súng 200 66

Giàn hỏa tiễn 6 0

Hoa lẫn Việt đều tuyên bố thắng trận nhưng không xứ nào hoàn thành mục tiêu chính yếu. Trung quốc không hủy được một sư đoàn Việt nào, không chấm dứt được xung đột tại biên giới, không ép được các đơn vị Việt rút khỏi Cam Bốt và củng không thuyết phục nổi VN thay đổi chính sách đối với Hoa kiều. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã gây ra tại Hà nội sự nghi ngờ về thực tâm của Mạc Tư Khoa can thiệp bằng võ lực để chống Trung cộng ở VN. Mặt khác, khối Asean đã lên tiếng ủng hộ Tàu trong cố gắng chận chủ nghĩa bành trướng của CS Việt tại Đông Á và, dưới khía cạnh này, gây thiệt hại cho nền kinh tế Việt không ít. Ngày 26.3.1979, Jiefangjun Bao viết trong bài xã luận: "Cuộc chiến 1979 đã làm sáng tỏ những ý kiến sai lệch về vấn đề chiến tranh và một số vấn đề khác". Không thấy báo xác định rõ vấn đề gì. Sáu tháng sau, nhân lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Cộng hòa Nhân Dân Trung quốc, Tổng trưởng Quốc Phòng Xu Xiangqian trình bày quan điểm trong tạp chí "Quân Đội": "Như chúng ta biết, trong lịch sử chiến tranh, có nhiều cuộc thất trận không vì nhân lực yếu hay võ khí kém, nhưng bởi tư tưởng quân sự lạc hậu và chỉ huy sai lầm. Một kết luận thực tế là năm 1979, tại VN, các lãnh tụ Trung Hoa vừa dạy đối phương và vừa thu thập một bài học hữu ích: Quân đội Trung Hoa không thể thắng một cuộc chiến tân tiến trước khi được hiện đại hóa về võ khí và chiến lược.

Đối với VN, hậu quả của cuộc chiến nặng nề hơn, về nhiều phương diện: 1) Trong vòng một năm, 1979-1980, vì lý do an ninh và cũng vì nhu cầu chiếm đóng Miên và Lào, ngân sách quốc phòng tăng rất mạnh. Lục quân vượt từ 600.000 bộ binh lên một triệu, Hải quân từ 3.000 thủy thủ lên 12.000 và Không quân từ 12.000 phi công lên 15.000. không kể ngân khoản khổng lồ để mua võ khí, tàu chiến và phi cơ.

2) Nội bộ Đảng CSVN chia rẽ trầm trọng, các phần tử thân Bắc Kinh bị khai trừ thẳng tay: Hoàng Văn Hoan, bạn nối khố của Hồ; tướng Chu Văn Tấn và Lê Quang Ba; Lý Báu, Lê Hiển Mai (trong Ủy ban Trung ương); Trần Đình Tri, Tổng thơ ký Quốc Hội. Tổng bí thơ Trường Chinh bay chức và bị đưa qua giữ ghế Chủ tịch Nước, một hư vị.

3) Về kinh tế, hai kế hoạch ngũ niên 1976- 1980 và 1981- 1985 thất bại thê thảm. Đồng bạc phá giá 100%. Giá sinh hoạt tăng phi mã. Lợi tức đầu người dưới 300 mỹ kim năm 1984. Ngày 30.4.1984, tại phiên họp ở La mã, Chương trình Liên Hiệp quốc về Thực phẫm cắt bỏ 5,3 triệu đô la viện trợ cho VN.

2- Hậu quả quốc tế.

A) Thái độ của Khối Asean: Từ 1979, chính sách của Asean có tính cách liên tục. Trong thời gian tháng 2 đến tháng 8, 1979, phần đông các nước thành viên âm thầm tán đồng cuộc hành quân của Bắc Kinh nhưng sau đó kêu gọi chính thức chấm dứt xung đột. Từ tháng 9 đến tháng 6.1982, Asean khuyến cáo VN rút quân khỏi Cam Bốt để quốc gia này tổ chức bầu cử tự do. Việc Trung quốc ngưng xô xát với VN giúp xúc tiến giải pháp. Từ tháng 6.1982 về sau, Asean vận động thành lập một liên minh chính trị do Sihanouk lãnh đạo trong khi vẫn áp lực Hà nội. Kết quả là tháng 7.1982, Hội nghị Ngoại trưởng 3 nước Đông Dương ra thông cáo đề nghị rút một phần quân Việt khỏi Cam Bốt, lập một hành lang an ninh giữa Thái và Miên và tổ chức Hội nghị Đông Á.

B) Các quốc gia khác trên thế giới - Khi chiến tranh Hoa-Việt nổ lớn, Tiệp khắc, Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni, Bulgarie, Cuba và Lào chỉ trích mạnh Bắc kinh. Nhựt và Tây Đức cắt viên trợ vì VN chiếm Cam Bốt. Ấn độ công nhận Chính phủ Heng Samrin để phản đối Trung quốc. Nam và Bắc Hàn im lặng, giữ thế trung lập. Mỹ có cảm tình với Đặng Tiểu Bình vì lo ngại Liên sô bành trướng, theo dõi tình hình và khuyên hai đối phương tự chế.

+++

Ba yếu tố căn bản đã ảnh hưởng sâu đậm cuôc chiến 1979: Quyền lợi quốc gia và chiến lược - Ý thức hệ Cộng sản và Lòng ái quốc. Một số vấn đề đã khích động nhóm người lãnh đạo có trách vụ quyết định. Tuy nhiên không một ai nghĩ rằng nước Tàu thực sự bị đe dọa về mặt an ninh vào thời khoảng đó. Trung quốc và Việt Nam không đi đến chiến tranh toàn diện vì cả hai thuộc phe xã hội chủ nghĩa. Tinh thần yêu nước và "mặc cảm huynh trưởng tự tôn" thúc đẩy Bắc kinh đòi hỏi đất đai, với mong ước tái lập ảnh hưởng cũ trong vùng. Tình anh em lâu đời giữa hai quốc gia láng giềng ngăn họ kéo dài một cuộc chiến đẫm máu. Bởi thế, sự đọ sức được giữ ở mức trung, may thay!

Điểm khác đáng lưu ý là vai trò của lãnh đạo. Đúng thế, lãnh đạo đẻ ra chính sách. Và chính sách vẽ đường cho ngoại giao. Nhân cách Đặng Tiểu Bình chi phối cuộc khủng hoảng 1979 được mệnh danh "chiến tranh của Đặng Tiểu Bình". Đặng mưu trí, nhẫn nại, liều lĩnh và thực tiễn. Đối diện là Lê Duẩn, không có kinh nghiệm sâu sắc về nước Tàu vì ở tù ngoài Côn đảo trong giai đoạn Việt Minh kháng chiến 1940 - 1950 với sự ủng hộ duy nhất và nhiệt tình của Bắc Kinh. Duẩn lên nắm quyền sau Trường Chinh giữa thập niên 50 và nhờ Nga hỗ trợ để giữ ghế khi Hồ qua đời năm 1969. Duẩn không uyển chuyển và kiên gan như Hồ nên lao mình vào một cuộc chiến mà Hồ có thể tránh khỏi.

Một bài học quân sự thứ hai: Tháng 4.1985, Quân đội CSVN tảo thanh biên giới Thái - Miên, Son Sann hù dọa Hà nội rằng Trung quốc chuẩn bị một bài học khác. Mùa đông 1984- 1985, VN thành công dẹp phiến loạn Miên. Lại có tin đồn giống như thế. Tại Bắc kinh, Đặng Tiểu Bình, Lý Chấn Nhiệm và Hoàng Hoa không bỏ hẳn ý định này. Giới truyền thông Tây phương, chính giới Hoa Kỳ và Nghị sĩ Henry Jackson cũng tiên đoán bi quan.

KẾT LUẬN:

Ngày nay, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển. Liên Sô và CS Đông Âu đã sụp đổ. Trung quốc và VN đang đổi mới kinh tế để cứu nguy chế độ. Bang giao giữa hai nước sáng sủa hơn sau ngày Lê Duẩn về chầu Các Mác vào tháng 7.1986 và Quân đội Việt bị buộc rời Cam bốt. Tuy nhiên, hai nước chưa giải quyết được một số tranh chấp gay cấn. Vẫn có nguy cơ nổ lớn. Ảnh hưởng của chính quyền Hà nội còn mạnh tại Đông dương. Cộng sản đã cho định cư hơn 200.000 dân Việt tại Miên và 100.000 tại Lào.

Trung Hoa - thành công hay thất bại - mãi mãi sẽ là mối ám ảnh của nước Việt Nam bé nhỏ. Ngược lại, Việt Nam luôn luôn là khúc xương khó nuốt của anh chàng khổng lồ phương Bắc. Đồng sàng nhưng dị mộng. Buộc phải sống chung hòa bình.

LÂM LỄ TRINH



-- (tosu_cs@yahoo.com), June 26, 2004.


Response to Toi muon biĂ¡ÂºÂ¿t vĂ¡Â»Â� cuĂ¡Â»Â™c chien tranh VN-China!

Job application of HCM




-- Kẻ Sĩ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), June 27, 2004.

Response to Toi muon biết vá»� cuộc chien tranh VN-China!

Cam on may bac rat nhieu ve tai lieu nay.Xin cho hoi thong tin ve tu vong 2 ben,toi biet mac du thong tin nay co the khong chinh xac lam,nhung hay cho toi biet.Cuoi cung ben nao thang,ben nao cung cho la minh thang,toi khong ua thang Trung Quoc tu lau lam roi.Nếu co them tai lieu xin cac bac hay post len cho toi de tham khao.Cam on rat nhieu,co hinh anh (Picture) thi tot hon.Xin chao.

-- Học sinh VN (kidfriendct@yahoo.com), June 27, 2004.

Response to Toi muon biết vá»� cuộc chien tranh VN-China!

1.- Thiệt hại của đôi bên. Dưới đây là bản kê khai thiệt hại căn cứ vào tài liệu mỗi phía, trích từ quyển sách "China's War With Việt Nam, 1979" của Gs King G. Chen , trang 114:

Trung quốc* Việt Nam#

Tử thương *26.000 #30.000

Bị thương tích *37.000 #32.000

Tù chiến tranh *260 #1.638

Chiến xa, quân xa *420 #185

Bích kích pháo, súng *200 #66

Giàn hỏa tiễn *6 #0



-- (tosu_cs@yahoo.com), June 27, 2004.


Response to Toi muon biết vá»� cuộc chien tranh VN-China!

Chiến xa Trung Cộng đang tiến vào VN ..1979

-- (tosu_cs@yahoo.com), June 27, 2004.

Response to Toi muon biết vá»� cuộc chien tranh VN-China!

Bí ẩn biên giới Việt-Hoa: Cắt Ải Nam Quan cho Hoa Lục

Nguyễn Đình Sài, Kỹ sư công chánh

http://www.danchu.net/ArticlesChinhLuan/CollectionVN/NguyenDinhSai001. htm

· Ngày 17/2/1979 Trung Quốc (TQ) xua quân tràn qua biên giới với tuyên truyền là để dạy cho CSVN một bài học. Sau hai tuần lễ, TQ tuyên bố chiếm được Cao Bằng, Lạng Sơn và Lào Cay. Đột nhiên vào ngày 5/3/1979 Bắc Kinh rút quân về sau mục đích cho Hà Nội một bài học đã đạt. Nhưng TQ đã gài lại phía nam biên giới trên hai triệu quả mìn. Và sau nầy cả hai phía Việt - Trung phải tốn gần 6 năm mới tháo gỡ hết.

Trong tài liệu của King C. Chen, China's War With Vietnam, Bắc Kinh đã viện trợ cho Hà Nội trên 20 tỷ. Hà Nội phải trả bằng cách nầy hay cách khác. Tiền và tài nguyên không đủ thì trả bằng lãnh hải và lãnh thổ.

Dấu hiệu khởi đầu của chuyện trả nợ là văn thư nhượng đảo và nhượng biển của Thủ Tướng VNDCCH ký ngày 14/9/58, để đáp ứng với bản tuyên bố về lãnh hải và "bản đồ chín gạch" (the nine dash map" của TQ ban hành 10 ngày trước đó, bao gồm hai quần đảo Hoàng sa, Trường Sa và một lãnh hải bao bọc gần hết bờ biển Việt Nam, lan ra tận Philippines, chạy dài xuống tận bờ biển Nam Dương, Mã Lai.

Câu đầu của văn thư Phạm Văn Đồng gửi Chu Aân Lai "Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc."

Người ta thấy đã có sự thỏa thuận bí mật giữa Bắc Kinh và Hà Nội, phát nguyên từ tham vọng thống nhất đất nước của đảng CSVN.

Về trận chiến biên giới1979, sau 15 lần thương thảo, CSVN chịu nhường cho TQ 720 cây số vuông ở vùng Lạng Sơn. Theo tài liệu từ TQ, cổng Hữu Nghị đã bị dời về phía nam, cách ải Nam Quan 5 cây số, và nằm trong địa phận Đồng Đăng.

Còn về hiệp ước biên giới song phương đã được bộ trưởng ngoại giao Tống Gia Xuân (TQ) và Nguyễn Mạnh Cầm (CSVN) ký ngày 30/12/1999. Ngày 29/4/2000 quốc hội TQ thông qua hiệp ước; ngày 9/6/2000 quốc hội CSVN cũng thông qua. TQ được chủ quyền các vùng đất huyết mạch kiểm soát phía bắc ngạn sông Kỳ Cùng và sông Bằng, hầu có thể mở tung cánh cửa vào phía nam, mà mấy ngàn năm qua các cuộc xâm lăng từ phương Bắc thường bị chặn vì địa thế hiểm trở.

Khi nhượng đất như thế Hà Nội được lợi gì? Theo nhật báo Xinhua (TQ), món lợi đưa đến cho CSVN là việc giao thương lên đến hàng tỷ mỹ kim và việc Bắc Kinh viện trợ cho Hà Nội xây dựng các dự án kỹ nghệ về thủy lực, thép, hơi đốt, phân bón và quặng nhôm.

Nhượng đất xong tiếp đến nhượng biển trong vịnh Bắc Việt. Theo Luke T. Chang, (China's Boundary Treaties and Frontiers Disputes), hiệp ước Pháp-Thanh được ký kết tại Bắc Kinh 100 năm trước, ngày 26/6/1887, ghi rõ ranh giới hải phận EEZ (Exclusive Economic Done) trong vịnh Bắc Việt theo đường kinh tuyến, khởi đầu từ bờ biển hai nước tại Vịnh Tonkin.

Bắc Kinh không tuân theo hiệp ước cũ đòi Việt Nam phải chấp nhận lấy đường trung tuyến để ấn định lãnh hải hai nước. Tuy nhiên đường trung tuyến của Bắc Kinh dựa trên đảo Hải Nam và bờ biển Việt Nam, trong khi Hà Nội chủ trương trung tuyến nằm giữa hai đảo Bạch Long Vĩ và Hải Nam. Tính ra sự khác biệt là một diện tích trên 5 ngàn cây số vuông. Vùng nầy nằm trong thềm lục địa Việt Nam, gần Bạch Long Vĩ, có nhiều hải sản cũng như tiềm năng về khí đốt.

Sau một năm thảo luận, Hà Nội lại phải nhượng bộ. Ngày 25/12/2000, chủ tịch CSVN Trần Đức Lương sang TQ lý hiệp ước chấp nhận hải phận theo đường vẽ của TQ.

Theo tài liệu của Giane's Intelligence, toàn vùng Trường Sa gồm khoảng 200 đảo lớn nhỏ và 200 bãi đá ngầm. Diện tích nổi chiỏ vào khoảng 8 cây số vuông, nhưng trải ra một diện tích mặt biển khoảng 240.000 cây số vuông (tài liệu của U.S Institution of Peace ghi 800.000 cây số vuông).

Ngoài các mỏ dầu hỏa, khí đốt, quần đảo nầy có tầm quan trọng về chiến lược, quốc gia nào chiếm giữ có quyền xác nhận hải phận 12 hải lý quanh bờ đảo và 200 hải lý đặc quyền kinh tế ngư nghiệp.

Từ năm 1976 TQ đưa tàu chiến xâm nhập và đổ bộ lên các đảo không người ở. Năm 1988, cuộc lấn chiếm liên tục của Bắc Kinh dẫn đến sự va chạm với Hà Nội. Trong cuộc đụng độ ätại vùng đá ngầm Fiery Cross Reef (Bãi Chữ Thập) ngày 14/3/1988, Hải Quân TQ đánh chìm ba chiến hạm Hải quân CSVN.

Cũng trong tháng 3, Hà Nội tố cáo Bắc Kinh khoan dầu trong hải phận CSViệt Nam, vịnh Bắc Việt, ngoài khơi Côn Sơn và đổ bộ vùng đá ngầm Đa Lực. TQ công bố "Chinese Law" xác quyết toàn vùng Đông Hải là nội hải của mình.

Đối với quần đảo Trường Sa, TQ chỉ chịu thương thuyết song phương với các quốc gia Phi Luật Tân, Mã Lai, nhưng lại không chịu thương thuyết với CSVN. Nguồn lợi dầu hỏa và khí đốt lớn lao trong vùng đảo không cho phép Hà Nội nhượng bộ dễ dàng. Mặc dù Hà Nội thừa hưởng di sản của VNCH để lại, nhưng trên 50% vùng dầu hỏa và khí đốt nằm trong hải phận EEZ của Mã Lai. Mặt khác, Hà Nội bị kẹt với văn thư của Phạm Văn Đồng chấp nhận lãnh hải rộng lớn của TQ từ năm 1958. Do đó, hiện nay Hà Nội có vẻ chịu phép với TQ.

Theo tờ Lateline News ngày 15/2/2001, Hà Nội đã tránh né trách nhiệm khi tờ Sài Gòn Giải Phóng đăng một bài tiết lộ rằng các viên chức cao cấp của đảng và quân đội họp kín để thảo luận việc thành lập một đơn vị quản trị hành chính riêng cho Trường Sa và thiết kế việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam.

Lập tức, phát ngôn nhân TQ Dư Bằng Giao lên tiếng: " Trung Quốc có chủ quyền toàn vẹn bất khả tranh chấp với quần đảo Nansha và toàn vùng lãnh hải liên hệ. Bất cứ quốc gia nào có hoạt động gì trên quần đảo vầy đều xâm phạm chủ quyền TQ, đều bất hợp pháp và vô giá trị."

Phát ngôn nhân bộ Ngoại giao CSVN Phan Thúy Thanh giải thích: " Đó chỉ là một tờ báo thành phố." Bà nầy nhiều lần từ chối trả lời trực tiếp các câu hỏi của nhiều ký giả về việc nhà nước CHXHCNVN minh định thế nào về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, mà chỉ giải thích rằng "theo sử liệu của Việt Nam Cộng Hòa thời trước, quần đảo nầy được xem là một phần của tỉnh Khánh Hòa."

Đầu năm 2000, cơ quan thông tấn AP có đề cập đến dự án xây xa lộ Trường Sơn trên đường mòn Hồ Chí Minh. Nhiều người lo ngại về môi sinh của dự án, nhưng không mấy ai để ý đến khía cạnh quân sự. Hiển nhiên, dự án nầy là kết quả của việc Hà Nội đã ký thuận bản hiệp ước biên giới vào cuối năm 1999. Điều đáng chú ý là đường mòn HCM thời chiến chỉ bắt đầu từ Nghệ An, mạn Bắc của rặng Trường Sơn, nhưng dự án xây xa lộ lại bắt đầu từ tỉnh Lai Châu, tỉnh cực tây bắc tiếp giáp với Lào và TQ. Dự án xa lộ chạy qua miệt tây rặng Hoàng Liên Sơn, qua phía đông Điện Biên Phủ, xuống Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình … vào tận An Lộc, nhập vào quốc lộ 1 Tây Ninh. Như vậy, việc chuyên chở từ biên giới cực bắc vào nam sẽ ngắn hơn và thuận tiện hơn quốc lộ 1. từ đó, người ta có thể suy ra viễn ảnh bán đảo Đông Dương có thể bị TQ thôn tính dễ dàng.



-- (tosu_cs@yahoo.com), June 27, 2004.


Response to Toi muon biết vá»� cuộc chien tranh VN-China!

Lê Duẩn Và Trung Cộng 1979, Và 1952-79

Stein Tonnesson

Chuyển Dịch: Nguyễn Phượng Hoàng

http://www.daiviet.org

Bài viết "Chứng Cớ Mới Về Trung Cộng, Đông Nam Á, và Chiến Tranh Việt Nam", tường trình tại buổi Hội Thảo Quốc Tế, Hồng Kông, ngày 11-12 tháng 1 năm 2000* bởi ông Stein Tonnesson, Trung Tâm Phát Triển và Môi Sinh, Viện Đại Học Olso.

* Tác giả chân thành cảm ơn ông Christopher E. Goscha đã cung cấp tập tài liệu của Lê Duẩn và đã tốn rất nhiều công lao để dịch tập tài liệu này. Tác giả cũng xin thành thật cáo lỗi với ông Chris Goscha vì đã viết Lời Giới Thiệu quá chậm trễ đến nỗi ông Chris không có cả cơ hội để đọc và cho ý kiến trước khi Lời Giới Thiệu được gửi tới Hồng Kông (ngày 5 tháng 1, 2000).

Đây là Lời Giới Thiệu của một tập tài liệu được viết năm 1979 bởi Lê Duẩn, Tổng Thư Ký của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đầu đề của tập tài liệu là Quan Hệ Trung Quốc và Việt Nam Trong Thời Kỳ 1952-79. Christopher E. Goscha đã tìm được tập tài liệu này tại Thư Viện Quân Đội ở Hà Nội, sao tay lại, và dịch sơ qua tiếng Anh. Những tờ giấy viết tay của Goscha, và những lời chú thích bằng tiếng Anh được đính kèm theo bài viết này. (Bản dịch hãy còn là bản nháp sơ thảo và không nên được trích dẫn.)

Tập tài liệu của Lê Duẩn không đề ngày, và tên của tác giả chỉ được viết là "Đồng Chí B". Tuy nhiên nội dung của bài viết cho thấy bài này được viết năm 1979, có lẽ trong thời gian Trung Cộng xâm lăng miền Bắc Việt Nam trong tháng 2, 1979, và sự xuất bản cuốn bạch thư của Việt Nam về sự quan hệ giữa Trung Cộng và Việt Nam ngày 4 tháng 10 cùng năm (1). Hình như là tập tài liệu này được viết ngay sau khi Đặng Tiểu Bình quyết định ngày 15 tháng 3 năm 1979, rút quân đội Trung Cộng về, sau cuộc xua quân vào mạn bắc Việt Nam để trừng phạt Việt Nam; nhưng trước cuộc đào tẩu qua Trung Cộng của nhà cựu lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam Hoàng Văn Hoan trong tháng 7, 1979.

Làm thế nào chúng tôi biết rằng người viết tập tài liệu này là Lê Duẩn? Trong tập tài liệu, "đồng chí B" cho biết là trong một cuộc họp của Bộ Chính Trị của Đảng Lao Động Việt Nam (ĐLĐVN, tên của Đảng CSVN từ 1951 tới 1976) ông ta được gọi là Anh Ba (Brother Number Three), bí danh mà chúng tôi biết Lê Duẩn dùng. Tập tài liệu này cũng thường nói đến những buổi họp cao cấp giữa các nhà lãnh đạo Trung Cộng và Việt Nam mà tác giả (được nhắc đến trong tập tài liệu này là T, trong tiếng Việt là tôi) đại diện phía Việt Nam có đầy đủ thẩm quyền và ít người khác ngoài Lê Duẩn đã có thể làm những điều đó.

Tập tài liệu có thể được các sử gia dùng để phân tích: a) Những tư tưởng và thái độ của Lê Duẩn, b) tình trạng của nhóm xã hội chủ nghĩa năm 1979, c) hồ sơ về những quan hệ của Lê Duẩn với Trung Cộng trong thời kỳ 1952-79.

Từ quan điểm của một học giả, cách an toàn nhất là dùng tập tài liệu này cho mục đích thứ nhất và thứ nhì vì tập tài liệu có thể được dùng để khai thác như một vật cổ, một bản viết còn lại của quá khứ mà các sử gia đang tìm kiếm để tái tạo lại. Như thế, nó sẽ cho thấy những quan niệm và thái độ của nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam trong năm khủng hoảng 1979, và một vài phương diện về hiện trạng của phía bên xã hội chủ nghĩa trong thời điểm sôi động đó. Nếu dùng tập tài liệu này như nguồn tài liệu chính về mối quan hệ giữa Lê Duẩn và Trung Cộng (chủ đề được trình bầy trong tập tài liệu) trước đó thì sẽ có vấn đề, vì những gì Lê Duẩn nói, năm 1979, là trong những cơn giận dữ. Vì thế ông ta có khuynh hướng bóp méo sự thật, có lẽ ngay cả việc nói sạo nữa. Vì liên quan đến những sự kiện xẩy ra trong thời kỳ 1952- 79, tập tài liệu vì vậy phải được sử dụng một cách tối ư cẩn thận, và được dùng để đối chứng với những tài liệu khác hiện đang có. Hai nguồn tài liệu giống như vậy, kết quả của những cơn giận dữ, là hai cuốn bạch thư xuất bản bởi Việt Nam và Trung Cộng ở cuối năm 1979. Một nguồn tài liệu thứ ba, với hàng loạt các tài liệu tiếp theo từ những năm 1964-77, là một bản nghiên cứu xuất bản bởi ủy ban Dự Án Lịch Sử Chiến Tranh Lạnh Quốc Tế năm 1998: 77 Cuộc Đàm Luận Giữa Trung Cộng và Những Nhà Lãnh Đạo Ngoại Quốc Về Những Cuộc Chiến Tại Đông Dương, 1964-1977 (hiệu đính bởi một nhóm sử gia quốc tế: Odd Arne Westad, Chen Jian, Stein Tunnesson, Nguyễn Vũ Tùng and James G. Hershberg). Sự sưu tầm này bao gồm 77 văn bản của những cuộc đàm luận - hay những đoạn trích - giữa Trung Cộng, Việt Nam và những nhà lãnh đạo khác trong thời kỳ 1964-77 (giả định là được viết xuống ngay sau mỗi cuộc đàm luận, thu gộp, trích đoạn và có thể sửa lại ở những giai đoạn sau đó). Bộ sưu tập bao gồm nhiều cuộc đàm luận mà Lê Duẩn có tham dự. Những nhà hiệu đính 77 cuộc đàm luận này cho biết rằng những bản tường trình sau buổi họp được thu thập từ "những tài liệu văn khố, những tài liệu nội bộ của Đảng Cộng Sản, và những sách vở ấn bản không ngăn cấm và bị ngăn cấm ở Trung Cộng và những quốc gia khác" (nhấn mạnh ở đây). (3) Những nhà hiệu đính không cho biết văn bản buổi họp nào được viết, được trích đoạn và thu gộp ở Trung Cộng và văn bản buổi họp nào ở "những quốc gia khác". Nó cũng là một điều hữu lý khi một số các văn bản của buổi đàm luận đã được dùng như những tài liệu chính trong việc sửa soạn cho cuốn bạch thư năm 1979, ít nhất cũng ở phía Trung Cộng. Điều này có nghĩa những tài liệu vừa mới được nhắc qua không phải là không liên quan với nhau. Sự kiện này và nguồn gốc không được rõ ràng lắm của 77 văn bản đàm luận có nghĩa chúng phải được dùng một cách cẩn trọng. Nhiệm vụ chính của chúng có lẽ là để cho thấy những điều gì mà các sử gia nên tìm tòi khi được cho phép vào các văn khố của Đảng Cộng Sản Trung Cộng và Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Thái Độ Của Lê Duẩn

Tập tài liệu này đã cho người ta thấy gì về thái độ của Lê Duẩn? Điểm nổi bật nhất của tập tài liệu là nó được trình bầy một cách thẳng thừng và theo cách của một cá nhân. Đây không phải là một tập tài liệu như những tài liệu bình thường của Đảng khi mà những thái độ và những cảm quan cá nhân thường bị bao phủ bởi những lời nhai đi nhai lại thường thấy (4). Lê Duẩn có vẻ như rất tự tin khi nói chuyện với các nhà lãnh đạo khác của Đảng để biện hộ cho những hành động của ông ta khi đối đầu với Trung Cộng, và để đảm bảo sự tiếp tục ủng hộ khi đối kháng lại áp lực của Trung Cộng, có thể phải chống trả một cuộc đại chiến mới. Lê Duẩn tự xưng là "tôi", nói rõ những người nào phía bên Trung Cộng trong phòng họp bằng tên, và bày tỏ cảm tưởng của ông ta về họ Mao, họ Chu, họ Đặng và những nhà lãnh đạo khác của Trung Cộng. Tác giả rất thích dùng từ "tôi", và dùng nó ngay cả khi nói về những buổi trò chuyện của ông ta với Hồ Chí Minh. Đây là một điều ngạc nhiên vì xưng "tôi" khi nói chuyện với "bác" thường được coi như là kiêu ngạo. Chữ dùng đúng nhất phải là "cháu". Trong suốt tập tài liệu, Lê Duẩn là người làm mọi chuyện. Văn phong theo lối nói. Giống như là tập tài liệu đã được kể cho người nào, rồi sau đó được đánh máy lại và cất trong thư viện Quân Đội.

Mặc dù tập tài liệu có lối nói thẳng thừng mới mẻ, nhưng có một điều mà tác giả hầu như không đề cập đến. Ông ta không nói một cách cởi mở về những chia rẽ nội bộ giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam. Chỉ có hai nhà lãnh đạo Việt Nam được nhắc tới qua tên là Hồ Chí Minh và Nguyễn Chí Thanh, cả hai chẳng ai sống năm 1979 cả. Không một chữ nào nói về Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thủy, Hoàng Văn Hoan hay bất cứ một người nào có một vai trò quan trọng trong mối quan hệ xảo trá của Hà Nội với Bắc Kinh (Hanoi's tortuous relation with Beijing). Sự bất đồng ý kiến trong nội bộ chỉ được nhắc đến một lần. Lê Duẩn tuyên bố là mọi người trong Bộ Chính Trị luôn luôn đồng tâm nhất trí, nhưng chỉ có một người đặt vấn đề với Bộ Chính Trị, đặt câu hỏi tại sao Lê Duẩn lại nói về nhu cầu không phải sợ Trung Cộng. Trong trường hợp đó, theo Lê Duẩn thuật lại, người dám đứng lên ủng hộ Anh Ba là Nguyễn Chí Thanh (vị tư lệnh quân đội Miền Nam Việt Nam, người được coi là ủng hộ những quan điểm của Trung Cộng trước khi chết một cách bất ngờ năm 1967). Người "đồng chí" hỏi câu hỏi quan trọng đó chắc chắn là Hoàng Văn Hoan, và sự kiện ông ta không được nói đến qua tên cho thấy rằng tập tài liệu này đã được viết (hay có lẽ được kể) trước khi người đảng viên lão thành này bỏ trốn qua Trung Cộng tháng 7 năm 1979.

Để có một nền tảng căn bản phân tích tập tài liệu Lê Duẩn, chúng ta trước hết phải đặt cơ sở trên những gì được biết về cuộc đời và sự nghiệp của ông ta (1907-86). Ông ta sinh ở Quảng Trị, Miền Trung Việt Nam, và đảng nghiệp của ông ta dựa trên sự nghiệp chính trị trong Miền Nam Việt Nam. Năm 1920, ông ta là một phu đường rầy, gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương trong những năm tháng thành lập 1930, và ở tù Pháp từ năm 1931 đến năm 1936. Trong thời kỳ Mặt Trận Bình Dân ở Pháp, ông ta được thả tự do để làm chính trị và tháng 3 năm 1938 trở thành Ủy Viên Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương (6). Năm 1940, ông ta lại bị bắt (cùng với Phạm Hùng và Nguyễn Duy Trinh) và cùng chung nhóm lãnh đạo bị Pháp nhốt ở đảo Côn Sơn trong những năm chiến tranh 1941-1945 (7). Ông ta được thả năm 1945 và trong suốt cuộc chiến tranh Đông Dương thứ nhất, ông ta ở chức vụ Bí Thư Đảng Ủy Nam Bộ (từ năm 1954 Cục Trung Ương Miền Nam Việt Nam), với Lê Đức Thọ là đồng chí thân cận nhất của ông ta. Sau Hiệp Định Geneva năm 1954, ông ta được biết đến qua vụ gửi một bức thư tới các nhà lãnh đạo Đảng để bầy tỏ sự bất đồng ý với Hiệp Định. Năm 1957, sau khi Trường Chinh bị mất chức Tổng Bí Thư Đảng Lao Động Việt Nam và Chủ Tịch Nhà Nước Hồ Chí Minh đảm nhận luôn chức lãnh đạo Đảng, Lê Duẩn được triệu về Hà Nội và được tạm thời đảm nhận chức Tổng Bí Thư. Ông ta là người chính, trong những năm 1975-59, cổ động đấu tranh võ lực ở Miền Nam Việt Nam, và được sự ủng hộ của Liên Sô và Trung Cộng cho chính sách đó. Quyết định của Hội Nghị Trung Ương Đảng thứ 15 tháng 1 năm 1959 đi đến đấu tranh tích cực ở Miền Nam là một sự thắng lợi rõ ràng cho Lê Duẩn, và ở Đại Hội lần 3 Đảng Lao Động Việt Nam năm 1960, ông ta được bầu làm Tổng Bí Thư. Mất hơn 15 năm trước khi Đại Hội Đảng lần 4 được tổ chức năm 1976, và Lê Duẩn chết khi còn tại chức, nửa năm trước Đại Hội 6 năm 1986. Lê Duẩn rõ ràng là người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam thứ hai nắm hầu hết các quyền lực trong thế kỷ 20 sau Hồ Chí Minh, cha đẻ Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930, Chủ Tịch Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1945, và chết năm 1969.

Lê Duẩn phải được xưng tụng như là một nhà lãnh đạo Cộng Sản bản xứ. Ông ta chưa bao giờ, không như Hồ Chí Minh, đi khắp thế giới lúc còn trẻ. Ông ta chưa bao giờ, không như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Hoan, sát cánh làm việc với Hồ Chí Minh thành lập mặt trận Việt Minh và Quân Đội Giải Phóng Quốc Gia dọc biên giới Trung Hoa trong suốt thời gian Đệ Nhị Thế Chiến. Ông ta cũng không thuộc phe cánh Trường Chinh, người thiết lập ban bí thư vùng bắc của Đảng Cộng Sản Đông Dương từ năm 1940 cho tới năm 1945, Cách Mạng Tháng Tám. Quyết định của Hồ Chí Minh trao chức lãnh đạo Đảng cho Lê Duẩn năm 1957-1960, và ủng hộ ông ta trong cuộc bầu cử 1960, phải được hiểu như là một cách để đảm bảo sự đoàn kết quốc gia. Ở thời gian mà nước Việt Nam bị chia đôi, và nhiều cán bộ Miền Nam được tập kết ra Bắc, cách hay nhất để bảo đảm Đảng Lao Động Việt Nam cho tất cả người Việt Nam, là đưa một người lãnh đạo Miền Nam lên lãnh đạo toàn Đảng. Giả định đây chính là động lực thúc đẩy đưa đến sự lựa chọn của Hồ Chí Minh. Mối liên hệ giữa Hồ Chí Minh và Lê Duẩn chưa bao giờ được coi là nồng ấm như sự liên hệ giữa "Bác" và những người cháu khác của Bác trong đảng (8).

Tập tài liệu năm 1979 của Lê Duẩn cho thấy rằng ông ta đã pha trộn một niềm tự hào dân tộc cao độ với tư tưởng là người Việt Nam, một dân tộc chuyên đấu tranh, đang đóng vai trò tiên phong của cuộc đấu tranh cách mạng thế giới. Tập tài liệu không cho thấy niềm hâm mộ hay kính phục một dân tộc nào khác ngoài dân tộc Việt Nam, mà chỉ thuần một tư tưởng cho những cuộc tranh đấu cho quốc gia độc lập, cho tất cả mọi dân tộc, lớn hay nhỏ. Niềm tự hào của ông ta lộ rõ trong đoạn văn đầu tiên, khi ông ta nói rằng sau khi "chúng ta" đánh bại người Mỹ, không một đế quốc quyền lực nào dám đánh "chúng ta" nữa. Chỉ có vài tên phản động Trung Quốc "nghĩ là chúng có thể". Cụm từ "chúng ta" ở đây mang ý nghĩa chúng ta là một nước.

Niềm kiêu hãnh của Lê Duẩn nằm trong luân lý đạo đức tự nhiên, và điểm phân loại căn bản trong luân lý trời đất của ông ta là giữa niềm sợ hãi và lòng can đảm. Ông ta có vẻ như khinh bỉ những người không "dám" chiến đấu. Nếu không có người Việt Nam, ông ta tuyên bố, chẳng có ai dám đánh nhau với người Mỹ cả, vì trong lúc người Việt Nam đánh nhau với người Mỹ, cả thế giới lại "sợ" người Mỹ. Cũng cùng một niềm kiêu hãnh đó lộ rõ trong lời thuật lại của Lê Duẩn khi kể lại một buổi tiếp xúc với Chu Ân Lai ở Hà Nội, ngay sau khi Chu Ân Lai gặp gỡ Kissinger ở Bắc Kinh. Lê Duẩn nói ông ta bảo ông Chu là với một hiệp ước mới giữa người Trung Quốc và người Mỹ, Nixon sẽ đánh "tôi" mạnh hơn nữa, nhưng "tôi không hề sợ tí nào." Sau đó trong tập tài liệu ông ta lại tuyên bố là "Chỉ có nước Việt Nam là không sợ nước Mỹ." Ông ta cũng chỉ rõ những người sợ là ai. Người đầu tiên sợ người Mỹ là họ Mao, ông ta tuyên bố. Câu nói nổi tiếng "cọp giấy" không thấy có trong tập tài liệu này. Họ Mao là người lúc nào cũng sợ người Mỹ, khuyên người Việt Nam không nên đánh nhau với người Mỹ, và từ chối không ủng hộ nếu điều này có thể đưa đến việc rủi người Mỹ trả thù lại Trung Cộng. Khi Trung Cộng can thiệp vào ở Đại Hàn, đó không phải là một dấu hiệu can đảm mà chỉ là để bảo vệ quyền lợi của họ.

Lòng hâm mộ sự can đảm của Lê Duẩn lên đến cao độ khi đọc câu sau đây: "Chúng ta không sợ ai cả. Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta có chính nghĩa. Anh ta, ta cũng không sợ. Bạn, ta cũng không sợ. Kẻ thù không sợ, đã đánh rồi. Mình là con người; mình chẳng sợ ai cả. Mình độc lập. Cả thế giới biết ta độc lập."

Ở điểm căn bản của ông ta về sự khác biệt giữa lòng can đảm và sự sợ hãi, Lê Duẩn tuyến bố, là điều khác biệt căn bản giữa chiến lược quân sự của Mao và chiến lược mà người Việt Nam theo đuổi. Chiến lược của Mao ở thế thủ, chiến lược của người Việt Nam ở thế công. Người Việt Nam chưa học được một điều gì về chiến lược quân sự ở người Trung Quốc cả. Trung Quốc lúc nào cũng yếu hèn. Họ hầu như chẳng dám đánh người Nhật. Sau chuyến viếng thăm Trung Cộng đầu tiên (ông ta nói là xẩy ra trong năm 1952), Hồ Chí Minh hỏi ông ta đã thấy gì. Hai điều, ông ta trả lời: "Việt Nam rất can đảm và họ chẳng can đảm tí nào." kể từ ngày đó trở đi, Lê Duẩn đã hiểu điều khác biệt căn bản giữa người Trung Quốc và người Việt Nam: "Chúng ta khác họ hoàn toàn. Trong mỗi người Việt Nam có một tinh thần hào hùng, và vì vậy chúng ta không bao giờ có thế thủ. Mọi người đều quyết chiến."

Trong tập tài liệu cũng thấy Lê Duẩn tỏ ra kính trọng hay cảm thông Liên Sô hơn là Trung Cộng, mặc dù không phải lo lắng nhiều về người Nga. Ông ta phiền trách về sự chia rẽ giữa người Trung Cộng và người Nga, và lý do của sự than phiền là điều đó đã làm thế đứng của người Mỹ ở Việt Nam mạnh hơn. Ông ta cũng than phiền là ông ta phải giải thích quá nhiều điều với Trung Cộng, phải qua đó "một năm hai lần". Và tiếp lời là ông ta không bị như thế với người Nga, và vì vậy ông ta không phải thông báo với họ: "Với người Nga, tôi đã không nói bất cứ một điều gì cả.... Tôi chỉ nói một cách đại khái." (9)

Một phương diện quan trọng khác trong tư tưởng của Lê Duẩn là ý thức hệ của ông ta đưa đến sự phân biệt một bên là "dân tộc Trung Quốc", một bên là những người Trung Quốc phản động. Như là đã thấy trước đây, ông ta không có lòng quý mến người Tầu, nói một cách tổng quát, nhưng ông ta cũng không muốn đổ lỗi cho cả dân tộc Trung Quốc vì những chính sách gây hấn của những người lãnh đạo của họ: "Chúng ta chỉ muốn nói đến họ là một tập đoàn (clique). Chúng ta không nói đến tổ quốc của họ. Chúng ta không nói người Trung Quốc xấu với chúng ta. Chúng ta nói đó là tập đoàn phản động Bắc Kinh (We say that it is the reactionary Beijing clique)."

Lê Duẩn cũng phân biệt các cá nhân phía bên Trung Cộng, và tiêu chuẩn phán đoán người được dựa trên mức độ hiểu biết về Việt Nam. Người ít hiểu biết nhất là ông Chủ Tịch Mao, người mà Lê Duẩn có vẻ hoàn toàn không thích một chút nào cả: "... một người không thể nói chuyện được, một người với con tim Đại Hán và người muốn thôn tính Đông Nam Á chính là Mao." Ông ta thích Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình nhiều hơn. Lê Duẩn tuyên bố là Chu Ân Lai đã đồng ý, trong thập niên 60, về nhu cầu cần thiết để có một mặt trận đoàn kết giữa các nước xã hội để yểm trợ cuộc tranh đấu ở Việt Nam, nhưng mà họ Mao lại nói điều đó không thể được. Họ Chu đã giúp cho Lê Duẩn thấu hiểu những gì đang xẩy ra ở Trung Cộng, và đã xếp đặt để viện trợ nhiều cho Việt Nam: "Tôi biết ơn ông ấy." Hứa Quốc Phong không hiểu Việt Nam, nhưng Đặng Tiểu Bình đã cho thấy hiểu rõ Việt Nam hơn. Đây là một điều khá ngạc nhiên vì chúng ta biết từ 77 Cuộc Đàm Luận họ Đặng là người nhận lãnh trách nhiệm về những vấn đề liên hệ Việt Nam-Trung Quốc một cách trực tiếp. Lê Duẩn có lẽ thích thẳng thắn, nói đốp chát hơn là lối nói loanh quanh tránh né của họ Hứa và lối nói chuyện độc đoán kỳ quặc của họ Mao. Lòng ái mộ họ Đặng của Lê Duẩn được chứng nhận ở một nguồn tài liệu khác. Tháng 10 năm 1977, ông ta nói với vị Đại Sứ Nga ở Hà Nội là Hứa Quốc Phong là một trong những người lãnh đạo Trung Cộng "không hiểu chúng tôi", nhưng Đặng Tiểu Bình "đối xử với Việt Nam với một sự thông hiểu rộng lớn." Trong thời gian đó, Lê Duẩn đã tiên đoán là Đặng Tiểu Bình sẽ thắng cuộc tranh giành quyền lực và điều này sẽ đưa đến sự phát triển mối liên hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam (10)

Năm 1979 mà Lê Duẩn hãy còn thái độ thân thiện với họ Đặng là một điều đáng ngạc nhiên trên cái nhìn là chính họ Đặng là người ra lệnh xâm lăng miền bắc Việt Nam. Lê Duẩn tuyên bố là họ Đặng thực tâm chúc mừng người Việt Nam năm 1975, khi Việt Nam thắng cuộc tranh đấu thống nhất tổ quốc, trong khi đó có một số các nhà lãnh đạo Trung Cộng hãy còn giữ lòng căm hận. Và năm 1977, họ Đặng đồng ý với Lê Duẩn về nhu cầu bắt đầu điều đình về những vấn đề ranh giới. Lê Duẩn nghĩ là họ Đặng đang bị áp lực bởi những người lãnh đạo Trung Cộng khác, thiếu hiểu biết hơn, và ông ta đã phải chứng tỏ bằng cách hủy bỏ liên hệ với Việt Nam để tránh bị buộc tội là xét lại: "... bây giờ ông ta xuẩn động và ngu. Bởi vì ông ấy muốn chứng tỏ rằng ông ấy không phải là kẻ xét lại, ông ấy đã đánh Việt Nam nặng hơn. Ông ta để mặc chúng nó tấn công Việt Nam". (11)

Phương diện cuối cùng về thái độ của Lê Duẩn được chỉ ra ở đây là sự trung thành với chủ nghĩa quốc tế của ông ta. Điều này có vẻ như kỳ lạ trong quan điểm hầu như hạn hẹp của ông ta chỉ về chủ tính tổ quốc, nhưng ông ta hiểu, Việt Nam là nước tiên phong trong toàn thế giới tranh đấu cho sự giải phóng tổ quốc. Điều này không giống như ngày xưa, ông ta nói, khi Việt Nam đứng một mình chống trả Trung Quốc. Hiện tại, cả thế giới đan kết với nhau một cách chặt chẽ: "... đây là thời gian mà mọi người muốn độc lập tự do. Tất cả nhân loại hiện tại thì như thế này... làm hại Việt Nam là làm hại nhân loại, một vết thương tới nền độc lập và tự do... Việt Nam là một quốc gia biểu hiệu cho độc lập và tự do."

(xin đọc tiếp phần 2 )

-- (tosu_cs@yahoo.com), June 27, 2004.


Moderation questions? read the FAQ