Những Mảnh Ðời Rách Nát: Có một niềm tin

greenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread

:::Nguyễn Vãn Huy - Phan Minh Hiển :::

Những Mảnh Ðời Rách Nát

Chýõng 1. Có một niềm tin

Sau biến cố 30-4-1975, gia ðình và bản thân tôi nói riêng và ðại gia ðình anh em phế binh nói chung sống những ngày ðen tối. Vì bị chế ðộ mới xếp vào loại "thành phần xấu", chúng tôi bị áp bức ðủ ðiều. Nhà cửa của chúng tôi vốn ðã không có gì bị cýỡng ðoạt, thân thể không nguyên vẹn của chúng tôi cũng bị cýỡng chế và chịu ðựng ðủ mọi nhục hình. Một số anh em chúng tôi bị cýỡng bức ðýa ði "tập trung cải tạo". Tập trung cải tạo ở ðây phải hiểu là ði ở tù, tâm hồn và thể xác bị hành hạ. Nhà tù ở ðây cũng không phải là nhà tù trong những thành phố mà là giữa chốn rừng sâu, khỉ ho cò gáy, trong những cãn cứ của cộng sản cũ, thiếu thốn trãm bề. Nhiều anh em chúng tôi ðã bỏ mình, thân thể nằm lại vĩnh viễn tại những chốn này, mồ hoang cỏ lạnh và bị ðời quên lãng.

Gia ðình chúng tôi cũng không thoát nạn. Ngýời ta cýỡng bức gia ðình chúng tôi ra khỏi thành phố và ðýa vào những vùng kinh tế mới giữa chốn rừng thiêng nýớc ðộc. Ông già, bà cả, vợ con tay yếu chân mềm, chýa bao giờ biết chặt cây phá rừng, ðào mýõng phát rẫy, ðều phải vật vả làm lụng mới có ãn. Những ngýời bị thýõng tật nhý chúng tôi, không ðủ sức cày sâu cuốc bẩm, khai phá núi rừng, ðã bị chói nýớc rét rừng ngã bệnh nặng trong các vùng kinh tế mới. Tại những nõi này, ngýời ốm ðau không có thuốc men chữa trị, ngýời không có sức lao ðộng không có cõm ãn, trẻ em không biết trýờng học, ông già bà lão thì thiếu ãn thiếu áo. Sau một thời gian, phần lớn những ngýời ði vùng kinh tế mới ðều lén trở về thành phố, trong ðó có chúng tôi vì không muốn bỏ mình trong chốn rừng sâu.

Trở về thành phố (Sài Gòn) thân yêu, dù phải hành khất xin ãn, lýợm vỏ ve chai hoặc bọc ny lông cũ, sống trong cảnh ðói khổ kiệt cùng chúng tôi cũng cam chịu. Vì nhờ ðó chúng tôi có tiền mua gạo nấu cõm ãn cho ðỡ ðói. Ðêm ðêm chúng tôi phải ngủ bụi ngủ bờ, ðầu ðýờng xó chợ, vì không nhà không cửa và không có ngýời quen thân ðể có chỗ che mýa trú nắng.

Ngày ngày chúng tôi chống ðôi nạng gỗ lê lết tấm thân tàn ði xin ãn hết nõi này ðến nõi khác, gặp gì lýợm ðó. Cũng nhờ bà con cô bác rủ lòng xót thýõng, bố thí cho chút tiền mọn hay chén cõm bạc, chúng tôi cũng sống tạm qua ngày. Nhiều lúc quá mỏi mệt, sức lực kiệt cùng, anh em chúng tôi bạ ðâu ngủ ðó, ngủ thiếp ði lúc nào không biết ðến khi bị "ngýời của xã hội này" bao vây tứ phía lúc ðó mới tỉnh dậy thì quá muộn màng. Ngýời ta lùa anh em chúng tôi lên xe bít bùng, ðánh ðập những ngýời chống cự và chở vào trại tập trung. Về ðến trại, dù với tấm thân tàn phế, anh em chúng tôi cũng bị ðày ðọa dầm sýõng, dãi nắng suốt ngày. Từ sáng sớm, từng tốp ngýời chống nạng lò cò, lọt thọt, bị chia toán ði lao ðộng, nhóm thì cuốc ðất trồng khoai, týới nýớc ở những miền ðất xa, nhóm thì ở lại trại rào kẽm gai, nhổ cỏ. Mỗi ngày ngýời ta chỉ cho ãn tiêu chuẫn mỗi bữa một chén cõm bạc với muối hoặc một củ khoai nýớng khét.

Không chịu nổi cảnh khổ cực, ðày ải trong các trại tập trung lao ðộng ðó, nhiều anh em ðã tìm cách trốn trại về lại thành phố. Những ai không may bị phát hiện thì coi nhý lúa ðời, hình phạt dành cho những ngýời trốn trại rất là tàn ác. Mỗi khi nghe tiếng kêu la thảm thiết vọng về từ phòng tra tấn, chúng tôi ai nấy ðều xót thýõng cho những anh em xấu số. Không hiểu tại sao cũng là ngýời nhý nhau mà ngýời ta có thể tàn ác với nhau ðến nhý vậy, kinh ngạc hõn nữa là tàn ác với những ngýời tàn tật chỉ vì quá sợ họ mà tìm ðýờng trốn thoát. Trýa hôm sau, một vài anh em chúng tôi ðýợc gọi lên vãn phòng dìu ngýời bạn xấu số về lại phòng giam. Không ai cầm ðýợc nýớc mắt và cãm hận khi thấy dáng ngýời phế binh nằm bất ðộng, máu me be bét, hõi thở khó khãn, mặt mũi sýng vù ðầy vết tím ðen. Những ngýời quản trại dùng báng súng ðánh vào ðầu anh, dùng chân ðá vào ngýời anh và lấy cây ðánh cả vào vết thýõng ðã lành nõi khúc chân bị cýa. Máu từ vết thýõng cũ ở khúc chân cứ ri rỉ theo tiếng rên. Làm sao với một thân hình ốm yếu, cụt què nhý anh ta chịu nổi ðòn thù. Vài ngày sau, anh bạn xấu số kia lìa ðời, xác thân bị chôn vùi nõi chốn trại này. Chúng tôi cúi ðầu nhìn ngýời ta mang xác anh Thảy vào một hố ðất ở bìa rừng. Xét cho cùng, chúng tôi là những ngýời thất trận và thật bại trýớc bạo tàn. Chúng tôi ðã không bỏ xác trên chiến trýờng nhýng ðã ngả gục nhục nhã nõi ðây bởi những con ngýời hèn mọn.

....con tiep.....

-- Kẻ Sĩ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), June 21, 2004

Answers

Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

Thời gian cứ trôi qua. Chúng tôi chứng kiến hàng ngày cảnh ðời trái ngang và ðau lòng ðó. Và chúng tôi là một trong những số ít ngýời may mắn sống sót trong những trýờng trại ðó. Chúng tôi sẽ không ngần ngại làm chứng nhân những ðiều mắt thấy tai nghe và thét lên tiếng kêu cầu cứu giùm những ngýời không còn tiếng nói. Týởng nhớ lại những ngýời anh em xấu số bị hành hạ và phải bỏ mạng trong nỗi nhục ðó, nýớc mắt chúng tôi cứ tuôn trào.

Chúng tôi là những nạn nhân thiệt thòi nhất trong cái xã hội này, một xã hội mang tên xã hội chủ nghĩa nhýng bóc lột không ai bằng. Không những thế nó còn tàn ác hõn cả thú dữ, cảnh ðánh ðập, chửi bới ngýời cùng khổ xảy ra hàng ngày và công khai. Chính quyền cộng sản ðã không làm một cử chỉ gì giúp chúng tôi cải thiện cuộc sống mà còn tìm cách vùi dập, ðàn áp không cho chúng tôi xuất hiện trýớc mắt ngýời khác. Họ chỉ muốn chúng tôi chết ði cho khuất mắt họ, họ không muốn lýõng tâm họ bị dằn vặt bởi cuộc sống khó khãn do chính họ gây ra. Chúng tôi có làm ðiều gì ác ðức ðâu ðể phải bị hành hạ nhý vậy, chỉ vì quá nghèo ðói chúng tôi phải lang thang cầu thực, chúng tôi có cýớp bóc, lýờng gạt ai ðâu mà bị ðối xử vô nhân ðạo nhý thế? Những ngýời ðại diện chế ðộ này không có tình ngýời, họ không những ãn sung mặc sýớng, ỷ lại chức quyền, cýớp của công, ãn hối lộ và làm tiền ngýời khác mà còn ruồng bỏ, hất hủi những ngýời ðã bị họ lợi dụng.

Trên býớc ðýờng ãn xin, chúng tôi còn chứng kiến bao cảnh trái ngang của những gia ðình "cách mạng", có nhiều "liệt sĩ" bị hất hủi, bị bỏ quên bởi chính ðồng ðội cũ của con cháu mình. Không những thế những ðám thanh niên vừa mới lớn lên, a dua theo chế ðộ này, còn vênh vặt chửi bới những "bà mẹ chiến sĩ" buôn thúng bán býng lấn chiếm lòng lề ðýờng. Ôi, cảnh ðời thật quá bất công! Chúng tôi chỉ là những kẻ sống bên lề cuộc sống, không có quyền gì cả, kể cả quyền ði ãn xin.

Những khi bị ðời hất hủi, chúng tôi chỉ tìm an ủi khi nhớ lại dĩ vãng xa xýa. Dù sao chúng tôi cũng có một thời oanh liệt và ðáng tự hào, chúng tôi là những chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ðã chiến ðấu anh dũng với kẻ thù, trừ gian diệt bạo trên khắp nẻo ðýờng Việt Nam thân yêu, ðem lại bình yên cho ðất nýớc, yên bình cho muôn dân. Chẳng may khi bị thýõng, anh em chúng tôi phải bỏ ði một phần thân thể, giã từ vũ khí trở về ðời sống dân sự. Trýớc kia, chúng tôi ðýợc mọi ngýời kính mến, nhân phẩm ðýợc tôn trọng, nhýng từ sau 30-4- 1975 chúng tôi sống trong hỏa ngục. Làm sao có cuộc sống bình thýờng khi mỗi ngày phải tìm cách ðối phó những nanh vuốt, tránh né những ðòn thù của kẻ ác. Vũ khí tự vệ của chúng tôi là chịu ðựng và niềm tin.

* * *

....con tiep......

-- Kẻ Sỉ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), June 21, 2004.

Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

Riêng về cá nhân tôi, thời trai trẻ ðã tham gia nhiều cuộc hành quân diệt giặc. Chẳng may nãm 1970, trong một trận ðánh tôi ðã ðể lại một khúc chân trên rừng núi Tây Ninh. Trở về ðời sống dân sự, cuộc sống của tôi cùng với gia ðình cũng tạm yên. Nhýng không ngờ ðất nýớc thân yêu rõi vào tay giặc, cuộc sống bình yên bị cýớp, chúng tôi trở nên nghèo khổ. Chúng tôi bị phân biệt ðối xử, sống trên quê hýõng týởng nhý sống trong vùng ðất lạ, chúng tôi không có quyền gì cả, kể cả quyền ãn xin. Chúng tôi sống trong sự kềm kẹp, trên ðe dýới búa, và không còn ai nâng ðỡ trong quảng ðời tàn phế này. Chúng tôi ðã gào thét lên ðến trời xanh: "Tại sao cuộc ðời anh em chúng con quá vô phýớc, bất hạnh thế này", mà trời cao nào có thấu cảnh ðời ðen tối mà anh em chúng tôi ðang trải qua, một cuộc sống khổ nhục tuyệt vọng không có ngày mai.

Có lần ði ngang qua cầu Sài Gòn, anh em chúng tôi nắm tay nhau ðịnh nhảy xuống sông ðể tự tử nhýng nghĩ ðến mẹ già, vợ dại, ðàn con thõ không ai chãm sóc, chúng tôi chỉ biết ôm nhau khóc thýõng cho số phận. Lúc ðó tôi chợt nhớ ðến lời ngýời bác tôi nói một câu nhý thế này: "Con chó nó còn muốn sống ðể ãn, tại sao tụi mày lại muốn chết? Phải sống ðó ðể nhìn ðời. Thà chết trên chiến trýờng còn hõn chết trên ðýờng ngýời ta ði". Từ ðó chúng tôi có lại niềm tin, tin rằng sẽ có một ngày mai týõi sáng, týõi sáng cho chính chúng tôi và týõi sáng cho ðất nýớc này. Chân trời sáng ðó ðã ðến.

Một hôm ðang trên ðýờng khất thực, chúng tôi ðýợc một ngýời tốt bụng nói rằng ở hải ngoại có nhiều ngýời giàu lòng nhân ái muốn giúp ðỡ anh em phế binh ðang sống khổ sở tại quê nhà. Hay ðýợc tin này, anh em chúng tôi vui mừng quá cỡ, mừng ðến rõi nýớc mắt, thân thể run rẫy. Một trong những ngýời ðó là bác sĩ Phan Minh Hiển, với tấm lòng bao dung bác sĩ Hiển ðã lao mình xuống hố sâu kéo anh em phế binh chúng tôi lên bờ danh dự.

Bác sĩ Hiển ðã tặng cho anh em chúng tôi mỗi ngýời tùy theo thýõng tật một cặp nạng hay một xe lãn, sau ðó tùy hoàn cảnh của mỗi ngýời tặng cho chúng tôi tiền. Ôi, còn gì sung sýớng cho bằng, sung sýớng không những cho anh em phế binh chúng tôi mà sung sýớng cho cả gia ðình. Chýa bao giờ chúng tôi ðýợc nghe lại những tiếng cýời rộn rã của gia ðình và vợ con ðến nhý vậy. Trong giờ phút lâm nguy, nghĩa cử cao ðẹp ðó thật là quí.

Kế là các ký giả Nguyễn vãn Huy (báo Ngày Nay và Việt Luận), Yên Mô - Cao Sõn (Thời Báo), Lê Quang Vinh (báo Phổ Thông), Gàn Bát Sách (báo Tiền Phong)... ðã liên tục dóng lên những hồi chuông nhân ái, tiếng vang của những bài báo viết từ hải ngoại ðã vọng về ðến Việt Nam. Nhiều ân nhân và hội ðoàn thiện nguyện khác ðã tìm cách giúp ðỡ anh em phế binh chúng tôi. Ông Lê Ðình Vọng, chủ tịch hội Huynh Ðệ Chi Binh tại Hoa Kỳ, ðã hết lòng cứu giúp anh em phế binh.

Nhờ quí ân nhân giàu lòng nhân ái ở hải ngoại cho chút ít tiền, nhiều ngýời trong chúng tôi ðã tìm lại nhân phẩm, không phải ãn xin ở khắp nẽo ðýờng. Những món tiền tuy nhỏ nhýng ðýợm biết bao tình, lòng chúng tôi ðýợc sýởi ấm trở lại. Chúng tôi tin rằng bên cạnh sự ác ðộc vẫn có tình yêu, một thứ tình ngýời chân thật, chỉ tiếc rằng ngày nay trở nên hiếm thấy.

Anh em chúng tôi thành thật cảm õn, và không biết nói gì hõn là cầu nguyện Thýợng Ðế ban phýớc lành cho quí vị ân nhân phýõng xa vạn dậm ðýợc an lành và thành công trên mọi lãnh vực. Chúc quí ân nhân dồi dào sức khỏe và gia ðình hạnh phúc. Nhờ số tiền do quí ân nhân ở hải ngoại giúp ðỡ, anh em chúng tôi làm vốn mua nhang ði bán dạo trên khắp nẻo ðýờng Việt Nam, từ Huế, Ðà Nẵng, Qui Nhõn, Nha Trang, Ðà Lạt, Bảo Lộc, Di Linh, Tây Ninh, Sài Gòn xuống ðến Long An, Bến Lức, Mỹ Tho, Bắc Mỹ Thuận, Rạch Giá, Bạc Liêu rồi về tận cùng mũi Cà Mau. Không làng xã, chợ búa ở thôn quê nào chúng tôi không ði qua. Nõi ðâu chúng tôi cũng chỉ thấy cảnh ngýời nghèo bị bạc ðãi, ðất nýớc ðiêu tàn và lòng ngýời oán hận.

-- Kẻ Sĩ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), June 21, 2004.

Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

Những lúc từ thành phố (Sài Gòn) về các ðịa phýõng, anh em chúng tôi chứng kiến nhiều cảnh thýõng tâm: những ngýời bạn phế binh ở những cầu phà, bến xe, chợ búa, tay cầm gậy tay cầm cây ðàn dắt nhau vừa xin vừa hát lại những bản nhạc xýa nghe thật nảo lòng. Chúng tôi ðã chia sẻ với nhau nỗi bất hạnh và cùng ngậm ngùi cho cảnh ngộ không may.

Có lần tôi nghe một ngýời anh em hát lên bản nhạc mà tôi nhớ không lầm là bản "Anh ði chiến dịch", trong có ðoạn nhý vầy: "Anh ði chiến dịch xa vời, nòng súng nhân ðạo cứu ngýời lầm than". Một bản nữa mang tên "Cho ngýời vào cuộc chiến", anh bạn ðó hát: "Anh bỏ trýờng xýa, bỏ áo thý sinh theo tiếng gọi lên ðýờng, anh ði vì ðất nýớc khổ ðau, anh ði anh quên thân mình, dù anh trở về trên ðôi nạng gỗ, dù anh trở về bằng chiếc xe lãn". Rồi nào là "Nãm cụm núi quê hýõng", trong ðó câu: "Chiều nay có ngýời thýõng binh không về với bàn tay nãm ngón, nhýng về với vạn chiến công, anh mất ði bàn tay".

Anh em hát trong nghẹn ngào ðể ðýợc bà con cô bác bố thí ít tiền mua cõm. Mỗi lần nghe là mỗi lần buồn tủi. Nòng súng nhân ðạo của chúng tôi ðã mòn, cò súng nhân ðạo chúng tôi ðã sét, chúng tôi không cứu ðýợc chính chúng tôi thì làm sao cứu ðýợc những ngýời lầm than. Anh em chúng tôi chỉ biết ðến với nhau chia sẻ nỗi ðau trong nýớc mắt.

Một hôm ðến Bắc Mỹ Thuận, tôi gặp một phế binh cầm chiếc ðàn ghi ta cũ nát ngâm bài thõ, nghe thật não lòng. Tôi hỏi xin bài thõ này, anh nói: "Thõ của Khất Výõng mà ngýời anh em xin làm gì". Tôi không hiểu, hỏi lại anh: "Khất Výõng là gì?". Anh týõi cýời trả lời: "Là vua ðó, nhýng là vua ãn mày", rồi ðýa tay vào bị lôi ra một tờ giấy ðýa tôi và nói: "Cho anh bài thõ này ðó, về ngâm chõi cho ðời bớt khổ".

-- Kẻ Sĩ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), June 21, 2004.

Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

Xin gởi tặng lại quí ân nhân bài Mùa xuân chết của Khất Výõng ðể làm chút quà tri õn:

Mùa xuân chết

Hai mýõi hai nãm khắp nẻo non sông

Tôi là sýõng gió long ðong bể ðời

Trãng xuân ðýa cảnh tuyệt vời

Gió xuân mang mác vọng lời âm ba

Hai mýõi hai nãm không cửa không nhà

Bạt màu áo trận nhạt nhòa xác xõ

Ngồi buồn ðýa cảnh vào thõ

Gối ðầu hiện tại tôi mõ thanh bình

Hai mýõi hai nãm từ cõi u minh

Nhớ gì tôi viết vào linh cảm này

Hai mýõi hai nãm dài biết bao nhiêu

Mộng mõ phủ kín sông dài núi cao

Khất Výõng

...con tiep

-- Kẻ Sĩ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), June 21, 2004.

Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

Cuộc chiến ðã tàn, anh em phế binh chúng tôi sống trong một xã hội ðầy bất công và ðen tối, nó kéo dài hõn hai mýõi bốn nãm nay và nó chỉ mang lại cho anh em chúng tôi nói riêng và cho nhân dân nói chung cuộc sống bầm dập, ðầy ðói rách và ðau khổ. Anh em phế binh chúng tôi tin rằng sau cõn mýa trời lại sáng. Chúng tôi cầu mong cộng ðồng ngýời Việt hải ngoại sớm mang lại bầu trời týõi sáng ðó cho Việt Nam, trong ðó sẽ không còn ai thấy cảnh bất công ðau khổ trong quảng ðời tàn phế còn lại của anh em chúng tôi.

Mong rằng quí ân nhân cùng các chiến hữu thân thýõng nõi hải ngoại nghe và hiểu những lời tâm sự này mà những ngýời bạn phế binh Việt Nam Cộng Hòa ðã và ðang gánh chịu cảnh sống ngục tù trong tủi nhục và nýớc mắt.

* * *

Một hôm trên ðýờng khất thực, anh em chúng tôi ði ngang qua Nghĩa Trang Quân Ðội cũ ở Thủ Ðức. Khi nhìn vào thì thấy một cảnh týợng rất ðau lòng, những ngôi mộ của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa ðều bị mục nát, rêu phong phủ kín vì thiếu ngýời chãm sóc. Những chiến sĩ này ðã nằm xuống, ðã hiến dâng cuộc ðời mình cho tổ quốc Việt Nam thân yêu, thế mà cũng không ðýợc nằm yên. Những ngýời cộng sản ðã ðập phá mồ mả các anh, dày vò xýõng cốt các anh.

Tại nhiều nõi khác, chính quyền cộng sản sang bằng các nghĩa trang ðể xây nhà cửa, nhà vãn hóa hay výờn trẻ. Trong những nghĩa trang quân ðội ở các tỉnh nhỏ, phần lớn các bia mộ ðều bị ðập phá, có ngôi bị cỏ ðất lấp vùi bia tự không còn ðọc ðýợc nữa nhý những mộ hoang. Các anh ðúng là "bạc màu áo trận", hýõng tàn khói lạnh, nhýng vẫn còn chút an ủi. Nhờ có một số anh em phế binh lớn tuổi ở gần các nghĩa trang hoang vu cô quạnh ðó ráng chống nạng gỗ vào nhổ cỏ, dựng lại mộ bia, ðắp ðất, quét lại vôi... rồi ðốt cho các anh vài nén hýõng xin lỗi thay cho những con ngýời tàn ác và cầu chúc các anh ðýợc ấm lòng nõi chín suối.

Cảm nhận sự an ủi ðó, anh em chúng tôi cũng lần vào hỏi thãm, bà con cô bác gần ðó cho biết có vài anh em phế binh chế ðộ cũ ðã có lòng từ tâm, thỉnh thoảng lén vào nghĩa trang sửa sang mồ mả những ðồng ðội cũ ðã nằm xuống, tránh những con mắt cú vọ của những ðại diện chế ðộ. Chúng tôi ðã gặp lại nhau, hàn huyên trao ðổi và giúp ðỡ lẫn nhau trong việc chãm lo mộ phần những chiến sĩ vô danh. Mỗi khi thực hiện xong những việc làm nhỏ nhặt này chúng tôi cũng cảm thấy ðýợc an ủi phần nào vì chính nhờ họ mà tổ quốc Việt Nam ðã tồn tại ít ra cho ðến ngày 30-4-1975.

-- Kẻ Sĩ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), June 21, 2004.

Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

Mỗi ðêm anh em chúng tôi thýờng nhìn một góc trời xa xôi tự hỏi thiên ðàng có thật không mà sao số phận chúng tôi ðau thýõng ðến nhý vậy. Chúng tôi ðang sống trong một cõn ác mộng, trong sự nhẫn nhục triền miên. Chúng tôi phải ðối phó hàng ngày với một bầy sý tử chỉ chực chờ vồ nuốt mạng sống chúng tôi. Mong rằng sẽ có một ngày anh em chúng tôi cũng nhý những anh em phế binh may mắn khác ðýợc cộng ðồng ngýời Việt trong và ngoài nýớc chiếu cố tới. Ðó là những ðiều mà chúng tôi ýớc ao: "Mong rằng ai kia ở nõi xa xôi nghe và hiểu ðýợc nỗi lòng của anh em chúng tôi", ðýợc nhý thế anh em chúng tôi vô cùng cảm kích.

Biết rằng ýớc mõ ðó ðối với anh em chúng tôi rất là mong manh, nhýng chúng ai cũng hy vọng. Hy vọng rồi sẽ có một ngày chúng tôi có ðýợc cuộc sống nhý mọi ngýời bình thýờng khác, không phải ãn xin ãn chực nõi cuối ðầu ðýờng góc chợ, con cái ðýợc ði học hay ði bán vé số mà không phải ði theo cha ãn xin hay lýợm bao ny-lông, giấy vụn. Ðến ðây anh em chúng tôi ðã trình bày hết tâm tý ðau buồn và nguyện vọng của những ngýời tàn phế, mong ðýợc trời xanh thấu cho mà ðối với chúng quí vị ân nhân tại hải ngoại là bầu trời xanh.

Anh em chúng tôi viết ít, ngắn gọn xin quí vị ân nhân hiểu nhiều. Anh em phế binh chúng tôi trýớc ðây chỉ là những chiến sĩ giữ gìn ðất nýớc chớ không biết cầm bút viết vãn. Kính xin quí ðộc giả và ân nhân ðọc xong nếu có ðiều gì sõ sót kính xin ðýợc thông cảm mà bỏ qua cho. Ðó là những lời nói chân thành xuất phát từ ðáy lòng và con tim của anh em phế binh chúng tôi ðang sống tại quê nhà. Ðối với những anh em thýõng phế binh nhý chúng tôi không có gì quí hõn tự do và nhân quyền, sống mà không có tự do và nhân quyền nhý thể xác mất ði hõi thở.



-- Kẻ Sĩ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), June 21, 2004.

Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

Sau ðây xin kính tặng quí vị ðộc giả bài thõ do tôi ðột ngẫu sáng tác:

Ngýời sống từ vực thẳm

Nhìn trời nýớc mắt tuôn rõi,

Nào ai thấu hiểu cuộc ðời phế binh.

Ðêm ðêm ngủ bụi ngủ bờ,

Áo không ðủ mặc, cõm thời chẳng no.

Cõm chang nýớc mắt nhạt nhòa,

Dù ðời tàn phế nhýng tôi không tàn.

Tôi ðây chịu cảnh lầm than,

Cuộc ðời là thế ai buồn nhý tôi.

Mong sao ðất nýớc yên bình,

Không nghe hành khất bên ðýờng van xin,

Không còn thấy cảnh tan thýõng,

Anh em ðoàn tụ huy hoàng vui xuân.

Viết lại theo lời kể của Ðộc Cýớc,

một phế binh ở Sài Gòn



-- Kẻ Sĩ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), June 21, 2004.

Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

Hội Y Sĩ VN Nam Cali Gây Quỹ Giúp Thương Phế Binh VNCH

Các bác sĩ trong ban tổ chức tường trình về cứu trợ thương phế binh VNCH (Từ trái: BS Phạm Anh Tuấn, BS Đặng Vũ Bằng, BS Nguyễn Xuân Vinh, BS Nghiêm Tú Lan và BS Bùi Thế Chung).

Huntington Beach (Nguyễn Ngân) -- Hơn 400 thân hữu và quan khách đã tham dự đêm gây quỹ giúp đỡ thương phế binh VNCH do Hội Y sĩ Việt Nam Nam Cali tổ chúc lúc 7 giờ ngày thứ bảy 26 tháng 6 năm 2004 tại vũ trường Majectic.

Đêm dạ vũ còn được sự yểm trợ tích cực của Hội Bưởi-Chu Văn An, Nhóm Liên Trường CVA, Nguyễn Trãi, Trần Lục, Hội Nha sĩ Việt Mỹ (VADA) các chíến hữu thuộc nhiều Quân binh chủng VNCH và tạp chí Trẻ. TRong phần mở đầu, sau nghi thức chào cờ Mỹ Việt là phần thuyết trình về y khoa do các bác sĩ Bùi Phi Long, Đặng Văn Chất, Đặng Văn Việt, Phạm Vũ Bằng đã lần lượt nói về các nguy cơ và phòng ngừa các loại binh về đường tiêu hóa, Tim mạch, Mắt ..v.. v..

Qua phần thứ hai Bác sĩ Bùi Thế Chung và Nguyễn Xuân Vinh đã trình bày ý nghĩa của việc lam của Hội Y Sĩ Việt Nam Nam Cali đối với anh em thương phế binh VNCH. Nhiều vị bác sĩ đang hành nghề tại đây từng một thời là các quân y sĩ của Thủy Quân Lục Chín, Nhảy Dù, các bệnh viện dã chiến hay Tổng Y viện nên sự thương cảm đối với anh em thương phế binh VNCH là điều dễ hiểu. Kỳ Đại Hội Y Dược cũng đã trích 10 ngàn Mỹ kim để tặng cho Hội Thương Phế Binh. Sau đó các bác sĩ trong ban tổ chức đã giới thiệu những người trong hội đã và đang bỏ nhiều công sức cho nghĩa cử này như là: BS Tuấn, BS Bằng, BS Vinh, Nữ BS Lan, BS Nha Khoa Lan Trân,Trần Văn Học ..v.. v.. và một danh sách ủng hộ tiền mặt khá dài đã được Hội Y Sĩ VN Nam Cali tiếp nhận.

Sau bữa cơm thân mật mọi người đã thưởng thức một chương trình ca nhạc, dạ vũ do nhiều ca sĩ thân hữu cũng như của vũ trường Majestic đảm trách. Sau khi tổng kết tài chánh Ban tổ chức sẽ có một thông cáo chính thức về số tiền nhận được từ đêm gây quỹ này.

Theo Bác Sĩ Chung cho biết ngoài số tiền thu dược trong đêm dạ vũ, từ những tác phẩm văn học được các tác giả biếu tặng Hội Y Sĩ VN Nam Cali cũng đã vận động được một ngân khoản khác nằm ngoài chương trình và cũng sẽ trao tặng cho các thương phế binh VNCH.

Hiện nay ngoài một vài tổ chức nhỏ vẫn thường quyên góp cho anh em thương phế binh VNCH, Hội Y Sĩ VN Nam Cali là hội đoàn đã tích cực yểm trợ cho chương trình này đậm nét nhất. Bác sĩ Vinh cho biết là sự quyên góp để giúp đỡ anh em thương phế binh VNCH hiện nay không phải dễ dàng, nhưng các bác sĩ VN tại Hoa Kỳ (nhất là các cựu Quân Y Sĩ của QLVNCH) sẽ làm hết mình vì không ai hiểu nỗi đau khổ của anh em bằng chính những người đã từng săn sóc cho anh em thương phế binh trước năm 1975.



-- nguoicaonien (xuanhutraidat@yahoo.com), June 28, 2004.


Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

Những Mảnh Đời Rách Nát

Nguyễn Văn Huy – Phan Minh Hiển

--------------------------------------------------------------------- -----------

Chương 3. Chúng tôi phải sống

Những năm sau ngày 30-4-1975, các khu vực quanh chợ và bến xe tại Sài Gòn đều bị giải tỏa. Nhà nước cộng sản cho xây dựng lại những khu chợ mới để bộ mặt thành phố đẹp đẽ hơn. Trước khi có chiến dịch bố ráp, bắt bớ qui mô, rầm rộ, những người cùng khổ bị xua đuổi đi nơi khác. Chúng tôi phải tìm nơi cư trú mới nhưng ở cũng không yên, nay lây lất chỗ này vài đêm mai lang thang chỗ nọ vài tuần, rồi lại dời đi nơi khác không có gì ổn định.

Cuộc sống của những người cùng khổ cũng như loài chim cộng mạng kia.

Chuyện xưa kể rằng ở xứ Thiên Trúc xa xôi có một loài chim mang tên cộng mạng chi điùểu. Suốt đêm ngày chúng nối cánh có nhau, nhưng vì chúng có ba cái đầu nên mang ba ý muốn khác nhau. Trong khi cái đầu này đang ngủ, cái đầu nọ muốn ăn và cái đầu kia lại muốn cất cánh bay cao. Những cái đầu nhìn nhau xa lạ và còn thù ghét nhau. Chúng tự cắn mổ lẫn nhau. Nhưng rồi mùa săn đến, những người thợ săn làm ra những cái bẫy để bắt chúng. Chúng sa vào bẫy, vùng vẫy, gào thét trong tuyệt vọng, rồi nhìn lại nhau và chợt hiểu rằng mặc dù chúng có ba cái đầu nhưng chúng chỉ có một thân mình, một quả tim và một nỗi đau khi bị thương tật. Từ đó chúng nguyện rằng khi thoát được cái bẫy ác độc này, chúng sẽ không con nhìn nhau xa lạ nữa và sẽ mãi nối cánh cùng nhau bay hết cuộc đời còn lại.

Những người cùng khổ tại Việt Nam cũng vậy, họ đã theo đuổi những mục tiêu, những khát vọng, đã khoác lên vai những lý tưởng khác nhau và đã nhìn nhau như thù địch. Tập đoàn lãnh đạo cộng sản hiểu ra điều ấy, đã khôn khéo làm ra những cái bẫy để bẫy dân, và dân chúng hai miền Nam Bắc đã chỉ hiểu ra điều ấy khi đã kiệt lực và đau khổ. Cũng giống như loài chim cộng mạng chi điểu, khi cái đầu này hiểu rằng nỗi đau của cái đầu kia là nỗi đau chung, thì cái bẫy ác độc của chế độ đã giữ chặt đôi chân của chúng mất rồi, chúng ta đã không còn biết xoay sở làm sao để thoát khỏi bàn tay của nhóm thợ săn khôn khéo ấy. Chúng ta phải cầu nguyện ngày nào thoát khỏi ách cộng sản vây trùm, chúng ta sẽ thương yêu nhau, đùm bọc lẫn nhau như người ruột thịt, vì chúng ta có chung một thân phận Việt Nam, thân phận những người cùng khổ trong một nước nghèo khó. Chúng ta đã cấu xé lẫn nhau để cho tập đoàn cộng sản rãnh tay ly tán, chia rẽ để rồi tất cả đều bị triệt hạ.

Anh Ba Mỵ đã từ miền Bắc vào Nam tìm kiếm người thân, nhưng không gặp. Anh nhìn đứa con trai nằm co quắp ngủ dưới mái che của ngôi mả cổ mà lòng buồn rười rượi. Năm 1954, chủ nghĩa cộng sản đã nhuộm đỏ miền Bắc. Vì gia đình anh ở tận làng quê xa, Lỗ Xá, huyện Kinh Môn, nên đã không chạy thoát ra được Hải Phòng để được chuyến tàu di cư cuối cùng chở những dân tị nạn cộng sản rời Vịnh Hạ Long vào Nam hưởng cuộc sống tự do. Anh đã ở lại để nghe lòng tan nát, ở lại để chứng kiến những cuộc đấu tố kinh hoàng.

Chế độ cộng sản miền Bắc đã làm áp lực buộc người làm công đấu tố chủ đất, học trò chống lại thầy dạy, bạn bè rình rập nhau như người xa lạ, người có học thức và giàu có bị coi là kẻ thù của giai cấp. Có nhiều người vợ đầu hôm tay ấp bỗng quay ra tố cáo người chồng. Tệ hại hơn nữa, chính con cái đứng ra tố cáo cả cha mẹ. Họ làm vậy để tỏ ra trung thành với Đảng, nhưng để được cái gì ngoài số phận được làm tôi đòi. Anh Ba Mỵ ngơ ngác nhìn những người thân quen xưa hò hét khản cổ, đi theo đám biểu tình hoan hô những lãnh tụ cộng sản. Tới lượt cha anh bị kết tội là Việt gian hạng nặng vì nói được tiếng Tây, gia đình anh bị tịch thu hết ruộng đất, mà ruộng đất có rộng là bao, vỏn vẹn chỉ ba sào. Thật là buồn, người ta đã không từ bỏ một thủ đoạn nào để triệt tiêu những gia đình bị coi là địa chủ.

Chủ nghĩa cộng sản không muốn dừng lại trên miền đất Bắc, tập đoàn lãnh đạo cộng sản phát động cuộc xâm chiếm miền Nam. Đã có những năm tháng, quân đội Hoa Kỳ, đồng minh cũ của miền Nam, cho máy bay ra oanh tạc miền Bắc. Tuy không dám nói ra, trong lòng anh mơ hồ nhen nhúm nỗi vui mừng và thỏa mãn. Máy bay ơi, bỏ bom cho khéo nhé kẻo trúng phải nhà dân. Hãy bỏ cho trúng ổ bọn chọc gậy xuống ao không biết rét. Ấy, lại gặp bọn quỷ quyệt. Chúng núp sau lưng dân, đưa dân ra chịu đựng. Chúng tìm cách kích động nhân dân căm thù giặc lái (phi công) để rêu rao trước dư luận quốc tế bị Mỹ ném bom. Ma Ma, Phật Phật, làm sao dân chúng phân biệt được, ai giải phóng ai. Nhưng khổ nỗi, trời đất đã không chiều theo lòng người, kẻ ác lại thắng. Miền Nam chẳng những đã không cứu được miền Bắc ra khỏi cảnh đời lầm than mà lại còn bị miền Bắc choàng lên đầu màn trời đen tối. Thôi rồi, hỏng cả rồi, anh Ba Mỵ than. Anh cùng Cả Yến, một người bạn chí cốt, rủ nhau vào Nam, trước để tìm người thân đã di cư hồi 1954, sau là tìm cách định cư luôn.

Nhưng nhà nước cộng sản không muốn người dân nghèo miền Bắc hiểu được đời sống thật sự của dân chúng miền Nam. Họ đã lập ra những chốt gác để ngăn chặn dân ở cầu Bến Hải, vĩ tuyến thứ 17. Dân không qua được cầu thì họ lội sông, nhưng như thế là phạm luật. Mặc kệ, anh Ba Mỵ và anh Cả Yến cùng với đứa bé chờ đêm xuống, tìm khúc sông vắng lội qua bên kia bờ… Việt Nam tươi sáng.

Vào đến Sài Gòn, hai anh không tìm thấy người thân. Hỏi nhiều chỗ, hai anh mới biết là người thân của hai anh đã vượt biển sang những nước tự do tị nạn cộng sản. Bơ vơ giữa dòng đời, hai anh đứng giữa chợ trời Sài Gòn, góc đường Hàm Nghi, không biết phải làm gì nhưng cả hai không còn tha thiết với quê hương miền Bắc nữa. Hai anh tự hỏi về để làm gì nữa, về để một người làm việc bằng hai, bằng ba mà ăn thì chỉ bằng một nửa. Những món đồ tùy thân cuối cùng của hai anh được đem ra bán. Hai anh tìm đường đi về xóm nghĩa địa.

Đã từ lâu, nhà cầm quyền cộng sản muốn lập lại trật tự trên đường phố vì những người sống vật vờ đầu đường xó chợ làm xấu chế độ xã hội chủ nghĩa nhiều quá. Từ lâu nhà nước muốn làm mạnh tay, loại trừ những thành phần lang thang ngoài đường phố, nhưng họ sợ mang tiếng với dư luận. Nay đất nước mở cửa ra với thế giới bên ngoài, những người không nhà không cửa, sống lang thang gây rối trật tự an ninh, nhà nước càng có thêm lý do chỉnh đốn lại thành phố. Vì vậy việc mua bán, sự đi lại cũng như chỗ ngủ qua đêm của anh em phế binh và người cùng khốn bị để ý, tất cả đều bị xua đuổi và bắt bớ giam cầm với những lý do không rõ rệt. Vào thời ấy chỉ còn một chỗ ở qua đêm ít ai để ý, đó là những nghĩa địa bỏ hoang, nơi bị đời bỏ quên. Chính vì đời bỏ quên nên những người bị đời bỏ quên cũng đã tìm về đây xum họp. Không ở yên với người sống thì tạm ở chung với người chết, thế là cộng đồng nghĩa địa được thành hình. Nó qui tụ tất cả những người mất nhà mất cửa không nơi cư ngụ, những người từ vùng kinh tế mới trở về, những anh em phế binh, cô nhi, quả phụ, những người sống dở chết dở và những người nghèo khó miền Bắc trốn vào Nam.

Vào trong nghĩa địa rồi, hai anh mới biết là họ không phải là những người đầu tiên. Nơi đây đã có sẵn một binh đoàn người nghèo khó từ miền Bắc vào Nam trước họ tìm cơ hội sống. Giữa những người cùng khổ, sự chia sẻ dễ dàng hơn vì tất cả đều là nạn nhân của chế độ. Họ sinh con đẻ cái tại chỗ, không có giấy khai sinh. Ai bệnh đau thì chỉ biết nằm rên hừ hự, chẳng may bị chết thì được chôn tại chỗ, bên cạnh một mộ phần nào đó, kể cũng tiện. Bà con rửa ráy, nấu cơm, ăn ngủ và tiểu tiện ngay trên các phần mộ bỏ hoang. Có điều lạ là tỷ lệ sinh sản tại đây hơi cao, bà mẹ nào cũng bồng trên tay một trẻ sơ sinh, có lẽ vì không biết làm gì giữa đêm khuya nên thú vui vợ chồng là chuyện gối chăn. Tại đây, anh Ba Mỵ cho cộng đồng nghĩa địa biết là anh và đứa con trai quyết định định cư tại nghĩa địa này, chờ Cả Yến về Bắc bán nhà xong mang cả gia đình vào Nam tị nạn. Anh nói:



-- nguoicaonien (xuanhutraidat@yahoo.com), June 28, 2004.


Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

NHỮNG MẢNH ĐỜI ĐÓ RÁCH - CHƯƠNG 3 TIẾP THEO

- Dẫu sao thì đối với miền Nam này nhà nước còn có sự giữ kẽ về chính trị, chưa có thể xiết chặt hơn miền Bắc đâu. Hãy còn kẽ hở để lách vào mà sống.

Anh bày cho anh em xóm nghĩa địa những cách làm ăn qua mặt bọn nó. Anh đồng ý với cộng đồng đau khổ này là tất cả chỉ là sự lừa dối kéo dài, không nên nghe theo những gì chính sách nói, phải làm ngược lại.

- Nếu như thế thì còn gì nữa! - một người đàn bà buồn bả thở dài.

Mọi người đã ngủ cả rồi, những gì anh Ba Mỵ nói ám ảnh chị mãi. Chồng chị là anh Mạc, phế binh bộ binh Sư Đoàn 25 cụt một chân và bị lao phổi nặng, đi bán nhang chẳng may băng qua đường lúc trời mưa thịì bị trượt té, một chiếc xe hàng chạy ngang thắng không kịp, đầu anh bị cán nát, lòi cả óc ra ngoài. Anh Mạc mới chết cách đây vài tháng. Đứa con gái, 5 tuổi, nằm ngủ vô tư quá. Chị ngước mắt nhìn lên vầng trăng giữa bầu trời đen tối, ánh trăng dẫu sáng cho mấy cũng không át được mây che lấp các vì sao. Biển đêm mênh mông quá, những ánh sao nhấp nháy đưa chị về vùng kỷ niệm của những ngày tuổi thơ. Những đêm trăng rằm Trung Thu, chị và những nhỏ bạn rước đèn. Ờ nhỉ, ngày ấy, đèn lồng của mình hình ngôi sao đẹp quá. Còn ngày nay cũng là ngôi sao nhưng sao nó vàng chóe thế này, lại còn như thỏa mãn cười nham nhở giữa mảnh vải màu máu đỏ lòm. Những lá cờ màu đỏ giăng kín các phố phường như chiếm hết không gian của chị và đứa con nhỏ. Chị ho khậm khẹt, không hiểu sao chị quá sợ màu đỏ quá. Nó giống như màu máu hòa trong nước miếng mà chồng chị nhổ ra sau mỗi cơn ho. Một buổi chiều kia, chị Liên ghé qua khu nghĩa địa rủ chị Mạc đi mua củi. Chị Liên nói:

- Đi buôn như thế lời nhiều lắm, đi xe lửa chui không tốn tiền vé, cứ hễ gần đến ga xe lửa chạy chầm chậm lại thì mình tuôn củi xuống rồi nhảy theo. Công an bảo vệ ga không sao bắt được vì nhiều người cùng làm vậy, nhất là các trẻ em nhanh nhẹn hơn. Dạo này chợ trời Hàm Nghi bị bố ráp dữ quá, nhà nước đang có chiến dịch làm đẹp thành phố, chính tôi đã nhìn thấy một bà già tóc bạc bị bọn nó túm lấy bao quần áo quẳng lên xe chở về trụ sở. Bà già hoảng hốt, quẩn cả trí, vội quỳ xuống chắp tay lạy bọn nó, nhưng bọn nó lại hung hăng nhìn bà già bảo là mỉa mai hả. Bắt giữ, tịch thu đồ đạc có lợi hơn là nhận những lời van xin của mấy bà già, vì hàng hóa sau đó được đem về trụ sở để chúng lục tìm những món gì thích đem về làm của riêng hoặc kêu tà lọt mang ra chợ bán lại chia nhau tiền. Bọn chúng cứ lạnh lùng truy bắt tiếp những người mua bán, lấn chiếm long lề đường, mình không còn đường nào khác là phải đi buôn.

Uống xong ngụm nước lạnh, chị Liên nói tiếp:

- Nhưng buôn than theo đường xe đò không còn an toàn nữa. Chị Loan và chị Mai vừa bị bắt ở trạm kiểm soát Sông Bé, hai chị tiếc số hàng nên ở lại năn nỉ. Đêm đến, hai chị nằm ngủ, đám dân quân chỉ đáng tuổi em các chị đã mò vào hạnh họe nọ kia, rồi tên xếp mặt non choẹt gọi chị Mai bằng em và đề nghị biết điều thì nó sẽ tha. Hai chị vừa sợ vừa bối rối vì số hàng ở trong tay chúng nên… chiều nó. Thỏa mãn xong, nó vừa lui ra thì gần một chục thằng khác nhào vô thay phiên làm thịt hai chị. Chúng ra vào quần quật, đùa giỡn thể xác hai chị suốt đêm. Đến tờ mờ sáng, bọn chúng làm bộ tịch thu lấy lệ một nửa số hàng rồi cho hai chị đi về không quên gởi kèm theo những lời trêu ghẹo tục tỉu.

Chị Liên cười cười kể tiếp:

- Về đến Sài Gòn, chị Mai hồng hộc thở ra: Tụi nó… tồi quá!. Chị Loan an ủi: Kệ nó, cái gì kia còn mất nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, rồi hai chị ra sông Bạch Đằng tắm rửa mình mẫy. Chị Loan nói với bạn: Tụi nó làm dữ quá, coi nè của tui sưng phồng lên đỏ hỏn, rát quá!.

Kể xong, chị Liên kết luận:

- Phải làm mau đi thôi, từ từ rồi chúng nó sẽ kiểm soát tới đường xe lửa, lúc ấy có muốn đi buôn cũng không được nữa đâu.

Rồi chị nói nhỏ:

- Ở ga xe lửa Sài Gòn đó, cứ mỗi chiều tối có mấy thằng cha mua hai ổ bánh mì kẹp thịt và hai bọc trà đá ở nách, kẹp tấm nệm đan bằng cói. Họ nháy nhó, rủ rê mấy người đàn bà không còn làm ăn gì được nữa ngủ qua đêm với họ.

Nhưng chị dặn thêm:

- Muốn làm gì thì làm nhưng đừng có ra chỗ đó nghen. Tụi mình phải nương tựa lẫn nhau mà sống. Đi buôn thì cần có bạn, đi bán cần có bè, nhưng nếu không có ai đi chung thì tôi sẽ đi một mình với thằng con trai. Tôi không để cho nó chui xuống cống kiếm cá nữa đâu, hồi hộp lắm!

Thế là chị Mạc quyết định theo chị Liên và chị Nguyệt lên Long Khánh buôn củi lậu. Mỗi chuyến đi kéo dài ba ngày khiến chị đuối sức, đứa con gái nhỏ 5 tuổi không phụ giúp được gì lại còn vướng bận những lúc nhảy tàu làm chị Nguyệt bực mình. May nhờ đứa con trai của chị Liên phụ giúp nên cũng đỡ được phần nào. Có lần chị Nguyệt bàn với chị Liên đi mua bán riêng, chị sằn sàng bỏ vốn cho chị Liên đi chung:

- Liên à, con Mạc hình như nó bị ho lao, vợ chồng thì dễ lây lang. Mày có thấy đôi vai của nó bị co rút lên không?

- Dạ thấy. Tội nghiệp, nó cũng ráng lắm mà.

- Mày lo cho mày đi. Thời buổi này nhân đạo là tự sát đó. Với lại mày thấy đó, tao đâu có vốn gì nhiều, nếu chậm chạp lỡ bị bảo vệ bắt một cái là hết vốn luôn.

Chị Liên ngẫm nghĩ: bà Nguyệt này thật ra đâu có tử tế gì, chẳng qua là bả nhờ có thằng Đức (con trai chị Liên) lanh lẹ nên mới chịu bỏ vốn ra đấy chứ, như vậy bà ấy lời thêm một công. Hình như đoán hiểu suy nghĩ của chị Liên nên bà Nguyệt tỏ vẻ thương thằng bé. Bà thường rủ thằng nhỏ: Đi ăn bún, con!. Đi thêm vài chuyến nữa thì chị Liên và bà Nguyệt buộc chị Mạc phải đi riêng. Chị Liên vỗ về bạn:

- Có gì thì chị cũng biết cách rồi đó, nếu không vốn nhi)ều thì buôn ít một chút cũng tạm đủ cho hai mẹ con sinh sống. Ráng lên!

Thấy mặt chị Mạc lộ vẻ lo lắng, chị Liên trấn an:

- Bà Nguyệt không chịu đi chung, thì chị cứ mua bán riêng cùng với tôi. Nếu như có chận bắt đột xuất cần phải tuôn củi và nhảy tàu thì thằng Đức con tôi dắt con Hoa giùm nhảy cho, đừng có lo.

Hai người quả phụ hẹn nhau là như thế, nhưng khi có cuộc chận bắt xảy ra thì ở trên các toa xe hỗn loạn lắm. Chị Mạc vừa quăng được hai bó củi xuống đám cỏ thì những bạn hàng khác cũng nhốn nháo cả lên, họ xô đẩy và chen lấn, tranh nhau tuôn củi xuống. Đứa con gái chị bị những bó củi quăng trúng chân khóc ré lên. Chị Mạc lúng túng, vừa sợ mất củi vừa sợ mất con, chị quay lại nhìn những bó củi, rồi quay lại nhìn con. Sao thế nhỉ, cái gì trong lòng chị thế này, ánh mắt con chị như sao trời nhấp nháy, tuổi thơ của chị đây mà. Chị chết điếng trong lòng rồi đưa tay ôm đứa con, nước mắt chị chảy ra, không biết là vì tiếc củi hay vì thương con, có lẽ cả hai. Bà Nguyệt và chị Liên đã nhảy xuống đường rày, nhìn chị Mạc la lên ơi ới:

- Ném củi xuống mau, bảo vệ tới kìa!

Đứa con trai chị Liên muốn đu người lên đoàn tàu để phụ chị Mạc ném củi xuống nhưng không kịp nữa, đoàn tàu từ từ đi vào sân ga, đám bảo vệ ùa ra, những con buôn ôm vội mớ hàng hóa bỏ chạy. Chị Mạc ôm con vào lòng nhìn người ta ôm những bó củi của chị chạy đi. Thế là mất hết. Chị bước xuống thềm sân ga, trước mặt là bóng tối.

Những ngày sau đó, người đàn bà gầy gộc ra đi. Đôi mắt chị Mạc thụt sâu vào hóc mắt, chị không biết làm gì nữa. Chút vốn liếng dành dụm được để đi buôn bay theo mây khói. Những cái quần, cái áo bán dần đi để cầm cự giữa chợ đời không còn nữa.

Chị Liên và đứa con trai đi theo chị Nguyệt vài chuyến nữa rồi rủ nhau đi Phan Thiết mua cá biển về bán ở Sài Gòn. Mùa cá đến rồi, nếu trời thương thì… cuộc đời đỡ khổ. Nhưng có một dạo bảo vệ xe lửa truy đuổi gắt gao, nhiều bạn hàng bị tịch thu hết cả hàng hóa. Chị Liên và chị Nguyệt nhờ có thằng Đức nhanh nhẹn nên thoát được nhiều chuyến hàng. Một hôm, trời mưa tầm tả, bảo vệ chia nhau ngăn chặn các toa xe. Để cứu lấy món hàng, thằng Đức và lũ nhỏ leo chuyền ra ngoài cửa sổ những toa xe. Một đứa tuột tay bị cuốn vào những bánh xe lửa, thân thể bị nghiền nát trên đường ray. Xe lửa về đến ga Thủ Đức rồi mà chị Liên vẫn chưa thấy đứa con trai đâu. Chị hỏi thăm lũ nhỏ, có đứa thấy thằng Đức leo lên mui xe lửa trốn thoát được bảo vệ. Nhưng đến ngày hôm sau chị Liên mới biết rằng khi xe lửa qua cầu Biên Hòa, con chị đã bị thanh sắt đánh vỡ đầu rớt xuống đường ray, thân xác bây giờ không biết được chôn cất nơi đâu. Chị Liên thơ thẩn, chị Nguyệt mất cả vốn không còn dám đi buôn nữa. Chị Mạc rời khu nghĩa địa ra ngồi ở bùng binh Chợ Sài Gòn đưa mắt nhìn qua bên kia đường.

Bên kia đường là sân ga. Trời đã tối, cửa hàng ăn uống quốc doanh đã đóng cửa, những sinh hoạt về đêm bắt đầu. Đủ mọi hạng người tụ tập về đây để ngủ qua đêm. Những người tài xế nằm dài trên tấm nệm cói trải trên nền xi măng để cho những người đàn bà tới đấm bóp, giác hơi xoa nắn, thư giãn gân cốt. Tại một góc của nhà ga là chỗ để khách lỡ đường ngủ đêm chờ tàu. Ở đó, có một số phụ nữ vì hoàn cảnh sống khổ sở đến ngồi chờ khách. Họ không biết làm gì vì không có đồng vốn nào cả, nhờ có chút nhan sắc nên khi đêm về họ lấy thân làm vốn. Nhưng vào thời buổi khó khăn, những người đàn ông cũng không rộng rãi cho lắm, họ trở nên thô bạo và không còn sòng phẳng như trước. Cái giá để trả cho một cuộc tình qua đêm là một khúc bánh mì, khoảng hơn gang tay, kẹp những lát thịt xắt mỏng (giá 500 đồng, bằng 1/4 dĩa cơm), một bọc ny lông trà đá và một tấm nệm cói để hai người đắp chung. Chỉ người phụ nữ nào may mắn lắm mới được trả bằng tiền mặt, nhưng cũng không là bao.

Vào mỗi buổi chiều, những người đàn ông ngồi trên băng ghế đá ở công viên, bùng binh, bến xe buýt để lựa chọn bạn… tình qua đêm. Bên cạnh họ để sẵn hai ổ bánh mì, hai bọc trà đá và tấm nệm cói để cho các bạn tình biết mà tìm đến. Khi đến với nhau, tuy không nùói ra nhưng họ ngầm hiểu là chỉ có họ với nhau mà thôi, nhưng vào khoảng nửa đêm có khi có thêm dăm ba người đàn ông khác xà vào ăn ké, dĩ nhiên là miễn phí. Người đàn bà khốn khổ kia chỉ biết im lặng chịu đựng vì có kêu cứu cũng không ai đến can thiệp.

Có những đêm anh em phế binh chúng tôi nằm ngủ ở một góc nhà ga chờ sáng theo tàu lửa đi bán nhang xa, nhìn những tấm nệm phập phồng dưới ánh đèn vàng vọt, tiếng thở hồng hộc và tiếng cựa quậy lục đục của người đàn ông kèm theo tiếng rên rỉ của người đàn bà, rồi tiếng chửi mắng tục tằn của người đàn ông không thỏa mãn, chúng tôi hiểu rằng trong bước đường cùng những người sống không lý tưởng vùi dập lẫn nhau như những con vật.

Nhưng cũng có những người đàn bà đem bán thân xác mà không có người mua. Đó là những người đánh lỡ mất tuổi thanh xuân, những bà quả phụ cô đơn. Cuộc sống khắc nghiệt ở hè phố làm mất đi chất tươi trẻ trên nét mặt, nụ cười, họ già đi mau chóng, thân hình khô héo quắt queo như trái táo tàu. Dù có xoa lên mặt chút hương phấn nhưng họ cũng không còn hấp dẫn ai. Chị Nguyệt cũng vậy, hết vốn đi buôn chị ra ngồi ở bùng binh cùng với chị Loan. Có những người đàn ông mua bán ở chợ trời, tuổi chỉ đáng con chị, biết chị cần có miếng ăn để sống cũng gọi chị bằng em. Chị không lấy đó làm giận mà còn mừng. Mừng là vì chị vẫn còn giá trị. Đã hai đêm rồi, mặc dầu chị đã xin của chị Loan một chút phấn để xoa lên mặt và cũng đã đi lại mời mọc một số người đàn ông nhưng không ai chịu chia sẻ với chị ổ bánh mì kia.

Tối nay trời mưa lạnh lẽo, hình như có bão hay sao ấy. Chị Mạc cảm giác như có kim châm ở trong bao tử, sự co thắt của các cơ thịt làm chị run rẩy, xương có vẻ như dòn ra, cử động kêu lụp cà lụp cụp. Cơn đau bao tử làm chị khó chịu, nước lạnh uống vào cứ sôi óc ách. Tay chân chị xê dịch khó khăn. Chị buồn ngủ và ảo giác càng đến với chị nhiều hơn, chị cố xua đuổi mà không được. Chị biết mình sắp mê đi nhưng bản năng sinh tồn thúc chị bước sang bên kia. Bên kia đường là vùng đất cấm, ai sa chân vào rồi thì khó bước ra.

Cũng ở bên kia đường, xéo góc với nhà ga xe lửa là cửa hàng ăn uống quốc doanh, con gái chị đang chờ chực khách ăn xong, nó chạy vào ăn húp những gì còn sót lại. Chị Mạc mơ màng nghĩ đến những tô hủ tiếu. Không biết thực khách bên ấy có ăn thêm bánh mì không nhỉ?, chị tự hỏi. Nếu có ăn thêm bánh mì thì nước lèo sẽ chẳng còn lại bao nhiêu, con chị lấy gì mà húp. Phần lớn khách vào cửa hàng ăn uống quốc doanh là giới bình dân, lao động, họ thường chấm bánh mì vào nước hủ tiếu để cho thêm no.

Nghĩ tới bánh mì, cơn đói thúc hối chị Mạc nhìn vào sân ga. Ở đây có những người đàn ông cặp nách hai ổ bánh mì, tay cầm hai bọc ny lông trà đá và tay kia cầm tấm nệm cói. Tấm nệm cói khiến chị Mạc liên tưởng đến trời đêm, những cơn mưa dai dẵng và mùi vị của khúc bánh mì kẹp những lát thịt ba rọi mới thơm ngon làm sao. Chị không còn quan tâm đến đứa con gái ở bên kia cửa hàng ăn uống nữa, chị nghĩ về mình. Cảm giác xấu hổ chỉ thoáng qua, chị nhớ lại câu nói của chị Loan: Kệ nó, cái gì kia còn mất, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Người ta như thế nào kia mà còn nghĩ đến quyền lợi riêng, phản bội cả quê hương, mình chỉ là một phụ nữ nghèo hèn còn gì nữa đâu để mà gìn giữ. Chị Mạc muốn được sống như những phụ nữ kia, được cho ăn và được cho tình.

Chị Hạnh cũng vậy, chị đã im lặng. Chị không làm được như chị Loan, mặc dù chị thừa nhận chị Loan nói đúng. Những người đàn ông thua trận cả rồi, chồng chị là một cựu lính Dù chết trong trại cải tạo. Chị Hạnh không còn vốn liếng để đi buôn than nữa nhưng vẫn không sao bước nổi sang bên kia đường. Chị vẫn thường hồi tưởng đến anh, những lần về phép trên chiếc jeep, bộ quần áo kaki rằn ri, những đôi giày bốt đờ sô bóng loáng. Cuộc sống của anh thật quá hào hùng. Không, chị không thể bước sang bên kia đường. Những kỷ niệm xưa giữ chân chị lại bên này đường. Chị Hạnh nói với chị Mạc bên kia đường là những mùi mồ hôi, mùi rượu đế và những lời bỡn cợt sổ sàng của những người quá tầm thường so với chồng chị. Nói xong chị Hạnh buồn bã nhìn xuống lề đường, rồi quay người bước đi.

Những kỷ niệm đó là của chị Hạnh, còn mình có còn gì nữa để mà hồi tưởng?, chị Mạc tự biện hộ thầm. Ngoài những mất mát chất chồng, những thiếu thốn thường nhật, những tai họa chờ chực, chị cố nhớ về những buổi chiều anh Mạc đi bán nhang về mang một chút gạo mốc, những khúc mì vụn, những gốc rau muống, một chút bột ngọt, tất cả làm chung thành một món ăn ngon lành. Nhờ vậy mà chị cầm cự cùng với chồng con. Nhưng lúc ấy còn anh kia, còn những lời hứa hẹn tuy tuyệt vọng nhưng đầm ấm ngọt ngào: Ngày nào đó có chút vốn, mình sẽ về quê. Còn bây giờ thì còn gì nữa đâu, mắt chị mờ đi, tai mơ hồ nghe thoang thoảng tiếng xe cộ.

- Má! - tiếng gọi của con gái làm chị Mạc thức giấc. Hóa ra là chị vừa chợp mắt thiếp đi trên băng ghế đá. Đứa con gái nhìn chị, miệng nó nhai nhóp nhép nửa củ khoai luộc. Chị Liên gặp nó ở cửa hàng ăn uống và dắt nó qua với chị. Chị Liên đưa cho chị nửa củ khoai, nói:

- Hồi này mưa quá nên khoai củ ở mấy vựa bị sùng thối, hư hao nhiều lắm. Mình chịu khó đi vòng vòng ở Chợ Cầu Ông Lãnh là kiếm cả rổ.

Chị Liên nhìn bạn nhai nuốt cả vỏ khoai, nói tiếp:

- Mấy chủ vựa sợ những củ khoai sùng lây qua những số khoai còn lại nên đổ bỏ rất nhiều. Mình chịu khó lượm về lựa lại rồi gọt bỏ những chỗ hư đem về luộc, sáng mang ra chợ bán cũng có được cái ăn qua ngày.

Chị Liên nhìn sang bên kia đường phê bình:

- Tội gì mà đem thân xác ra để cho chúng dày vò.

Chị Mạc im lặng, mãi miết ăn ngấu nghiến những củ khoai luộc. Đứa bé gái vô tư ngồi gõ cái lon sữa bò theo điệu nhạc mới: Đêm qua em mơ gặp bác Hồ, râu bác dài tóc bác bạc phơ….

Chị Liên ngồi suy nghĩ vẫn vơ, chị Liên thở dài, đối với chị, không yêu thì… không làm được chuyện ấy, chị sẽ không bao giờ bước sang bên kia đường. Chị chỉ còn một mình, nhẹ lo hơn chị Mạc. Thằng Đức, kỷ vật cuối cùng, dấu ấn của tình yêu đối với chồng chị, anh Nguyễn Văn Hơn, đã mất. Chị không còn gì nữa ngày hôm nay, nhưng những kỷ niệm thời học trò nhẹ nhàng băng ngang dòng tâm tư của chị. Bảy năm yêu thương, bảy năm h°ạnh phúc. Những lần chồng về phép, chị rất thích nghe những bản nhạc Buồn trong kỷ niệm, Tấm ảnh ngày xưa với tiếng ca não nùng thấm thía của bà chị Thanh Thúy. Ờ, rồi lại còn Tàu đêm năm cũ nữa. Đem về trả cho tôi người xưa… chồng chị cười nói: Cũng là con tàu thôi, khi đem người đi thì buồn, lúc đem người về lại em cảm thấy gì?. Chị nhìn anh lo sợ. Có khi nào…, chị không dám nói hết ý.

Có khi nào con tàu đem người thân đi mãi hay không? Ngoài đời chị vẫn nhìn thấy những chiếc GMC chở quan tài phủ cờ vàng chảy ba dòng máu đỏ, máu của người chiến binh đã đổ ra cho đất nước, và những chiếc khăn tang chan hòa nước mắt buộc chặt trên đầu các thiếu phụ và những trẻ thơ. Chiến cuộc ngày càng khốc liệt hơn, những lần về phép của anh cũng thưa dần. Chị Liên còn nhớ rõ ánh mắt buồn bã của chồng trong lần chia tay cuối cùng, anh đã đi biền biệt không về. Một ngày kia, người ta báo tin anh tử trận. Chị Liên gia nhập vào đội quân tóc dài mặc áo đen, đầu chích khăn tang khóc chồng, ôi thật buồn bã.

Mãi miên man suy nghĩ, tưởng nhớ vu vơ, chị Liên giật mình liếc mắt tìm bạn. Chị Mạc không còn ở bên này bùng binh nữa. Vừa ăn xong củ khoai luộc, chị Mạc vội bước sang bên kia đường, biến mình trong khu nhà ga với ánh đèn vàng, những tấm nệm cói phập phồng và những tiếng thở hồng hộc.

- Trong những tấm nệm cói ấy vang lên tiếng thở, họ thở ấy ra sao nhỉ? - chị Liên nhắm mắt liên tưởng.

Tưởng tượng những tấm nệm cói phập phồng, chị Liên rùng mình ớn lạnh. Chị cảm thấy cô đơn, chị ao ước: Phải chi được nghe tiếng thở của anh Hơn trong tấm nệm ấy thì… sung sướng biết bao. Chị mơ tưởng những giây phút êm đềm, ấm áp của ngày xưa. Chị có cảm tưởng như nhìn thấy đôi mắt của anh, đôi mắt sao giống đứa con trai của chị quá. Chị mỉm cười vu vơ. Trong giấc mơ, chị thấy anh trở về trên xe bước xuống cùng những người bạn lính, có cả lá cờ vàng nữa… Nhưng rồi chị hốt hoảng. Người đứng trước mặt không phải là chồng chị, mà là người báo tin anh tử trận. Người ấy nói nhiều lắm, chị ù cả tai không nghe gì cả.

- Làm gì mà ngồi đây có một mình hả em?

Chị Liên giật mình mở mắt, trướưc mặt là một gã đàn ông, tay cầm ổ bánh mì và bọc trà đá.

- Ăn đi em, anh đã ăn rồi. Đêm nay sao buồn quá.

- Không, cảm ơn.

Chị Liên đứng dậy bỏ đi ra bờ sông Bạch Đằng. Gió đêm làm chị cảm thấy lạnh hơn. Dòng sông đen lấp loáng ánh đèn. Chị nhớ đến cái chết của chị Trúc, xác chị nằm ngữa trương phình lên. Không, mình không được phép tự tử, mình là người Công giáo. Lạy Chúa, xin nâng đỡ con, dẫu cho có thế nào con vẫn tin Chúa, Chúa ơi!, chị Liên khấn thầm mặt hướng lên trời. Mỗi khi nghe tin có vài anh em phế binh thân quen chết đi, chị vẫn thường cầu nguyện. Chị vẫn mong là ngày mai rồi sẽ khác đi.

Mùa mưa cũng vừa sắp hết, Chị Liên sửa soạn rời khỏi khu vực nhà ga xe lửa Sài Gòn. Chị nói với các chị bạn là cần đi xa để quên những chuyện buồn. Chị muốn về quê nhưng quê hương đâu còn nữa. Chị đi bộ về phía Chợ Lớn, lạc vào giáo xứ Quận 8. Buổi trưa chị ngồi nghỉ chân bên cổng nhà thờ Bình An Thượng. Chị nhìn lên tượng Chúa Giêsu chịu khổ nạn cầu nguyện. Ông cha xứ già, tóc bạc phơ, dáng người mệt mỏi từ trong nhà thờ đi ra nhìn thấy chị. Chị nhìn cha. Hình ảnh ông cha xứ già sao giống đấng Thánh Phêrô quá. Cha hỏi, chị lễ phép trình bày hoàn cảnh của mình. Chị không mong cầu điều gì khi trình bày hoàn cảnh của chị, chị có cảm tưởng như đang xưng tội trước vị cha xứ, lòng chị trở nên nhẹ nhõm hơn. Thế thôi.

Nghe xong cha xứ bước vào lại giáo đường. Một lúc sau nghe tiếng cha gọi, chị Liên đi vào. Cha mở ngăn kéo, trong có số tiền lùớn nhưng là toàn là tiền giấy nhỏ, chị hiểu đó là tiền ủng hộ của giáo dân dâng hiến trong những ngày lễ. Cha xứ đã cất giữ những món tiền đó trong nhà thờ. Chị ứa nước mắt nhìn cha. Ông cha xứ già cẩn thận gói số tiền ấy vào tờ giấy báo và run run cầm đưa tận tay chị. Nước mắt chị trào ra, ướt cả khuôn mặt. Cha gọi người làm vườn nhờ đưa chị đến bến đò qua bên kia sông để tránh không bị công an làm khó dễ. Chị quay lại nhìn cha chào từ giã. Cha dặn chị: Con nên rời bỏ cuộc sống vỉa hè ấy đi và chúc lành: Chúa nâng đỡ bước chân con. Hãy cầu nguyện thường xuyên.

Chị Liên quay lại nhà ga xe lửa Sài Gòn, tay chị cầm theo ba ổ bánh mì kẹp thịt ba rọi trông thật ngon lành. Nhưng chị không gặp được chị Mạc và con Hoa. Ở đấy vừa có chiến dịch thu gom những người sống bụi đời vô gia cư, vô nghề nghiệp, ăn ngủ ngoài hè phố. Nhà nước cộng sản Việt Nam không bằng lòng để những người trước kia tuân theo lệnh đi xây dựng vùng kinh tế mới nay trở về sống ở hè phố, bêu xấu chế độ. Lần này tất cả bị đưa đi những nông trường xa xôi khác. Chị Liên mò vào những xóm nghĩa địa hỏi thăm, nhưng không ai biết mẹ con chị Mạc ở đâu. Mãi về sau gặp lại chị Nguyệt già, chị Liên mới biết là chị Mạc bị đưa đi cải tạo lao động ở nhà nuôi Ba Thôn, huyện Hóc Môn.

- Còn đứa con gái? - chị Liên hỏi.

Chị Nguyệt nhún vai:

- Thì họ tách hai mẹ con ra chớ sao, nghe đâu con nhỏ được đưa về cô nhi viện gì đó ở Gò Vấp.



-- nguoicaonien (xuanhutraidat@yahoo.com), June 28, 2004.


Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

NHỮNG MẢNH ĐỜI ĐÓI RÁCH - CHƯƠNG 3 TIẾP THEO

- Dẫu sao thì đối với miền Nam này nhà nước còn có sự giữ kẽ về chính trị, chưa có thể xiết chặt hơn miền Bắc đâu. Hãy còn kẽ hở để lách vào mà sống.

Anh bày cho anh em xóm nghĩa địa những cách làm ăn qua mặt bọn nó. Anh đồng ý với cộng đồng đau khổ này là tất cả chỉ là sự lừa dối kéo dài, không nên nghe theo những gì chính sách nói, phải làm ngược lại.

- Nếu như thế thì còn gì nữa! - một người đàn bà buồn bả thở dài.

Mọi người đã ngủ cả rồi, những gì anh Ba Mỵ nói ám ảnh chị mãi. Chồng chị là anh Mạc, phế binh bộ binh Sư Đoàn 25 cụt một chân và bị lao phổi nặng, đi bán nhang chẳng may băng qua đường lúc trời mưa thịì bị trượt té, một chiếc xe hàng chạy ngang thắng không kịp, đầu anh bị cán nát, lòi cả óc ra ngoài. Anh Mạc mới chết cách đây vài tháng. Đứa con gái, 5 tuổi, nằm ngủ vô tư quá. Chị ngước mắt nhìn lên vầng trăng giữa bầu trời đen tối, ánh trăng dẫu sáng cho mấy cũng không át được mây che lấp các vì sao. Biển đêm mênh mông quá, những ánh sao nhấp nháy đưa chị về vùng kỷ niệm của những ngày tuổi thơ. Những đêm trăng rằm Trung Thu, chị và những nhỏ bạn rước đèn. Ờ nhỉ, ngày ấy, đèn lồng của mình hình ngôi sao đẹp quá. Còn ngày nay cũng là ngôi sao nhưng sao nó vàng chóe thế này, lại còn như thỏa mãn cười nham nhở giữa mảnh vải màu máu đỏ lòm. Những lá cờ màu đỏ giăng kín các phố phường như chiếm hết không gian của chị và đứa con nhỏ. Chị ho khậm khẹt, không hiểu sao chị quá sợ màu đỏ quá. Nó giống như màu máu hòa trong nước miếng mà chồng chị nhổ ra sau mỗi cơn ho. Một buổi chiều kia, chị Liên ghé qua khu nghĩa địa rủ chị Mạc đi mua củi. Chị Liên nói:

- Đi buôn như thế lời nhiều lắm, đi xe lửa chui không tốn tiền vé, cứ hễ gần đến ga xe lửa chạy chầm chậm lại thì mình tuôn củi xuống rồi nhảy theo. Công an bảo vệ ga không sao bắt được vì nhiều người cùng làm vậy, nhất là các trẻ em nhanh nhẹn hơn. Dạo này chợ trời Hàm Nghi bị bố ráp dữ quá, nhà nước đang có chiến dịch làm đẹp thành phố, chính tôi đã nhìn thấy một bà già tóc bạc bị bọn nó túm lấy bao quần áo quẳng lên xe chở về trụ sở. Bà già hoảng hốt, quẩn cả trí, vội quỳ xuống chắp tay lạy bọn nó, nhưng bọn nó lại hung hăng nhìn bà già bảo là mỉa mai hả. Bắt giữ, tịch thu đồ đạc có lợi hơn là nhận những lời van xin của mấy bà già, vì hàng hóa sau đó được đem về trụ sở để chúng lục tìm những món gì thích đem về làm của riêng hoặc kêu tà lọt mang ra chợ bán lại chia nhau tiền. Bọn chúng cứ lạnh lùng truy bắt tiếp những người mua bán, lấn chiếm long lề đường, mình không còn đường nào khác là phải đi buôn.

Uống xong ngụm nước lạnh, chị Liên nói tiếp:

- Nhưng buôn than theo đường xe đò không còn an toàn nữa. Chị Loan và chị Mai vừa bị bắt ở trạm kiểm soát Sông Bé, hai chị tiếc số hàng nên ở lại năn nỉ. Đêm đến, hai chị nằm ngủ, đám dân quân chỉ đáng tuổi em các chị đã mò vào hạnh họe nọ kia, rồi tên xếp mặt non choẹt gọi chị Mai bằng em và đề nghị biết điều thì nó sẽ tha. Hai chị vừa sợ vừa bối rối vì số hàng ở trong tay chúng nên… chiều nó. Thỏa mãn xong, nó vừa lui ra thì gần một chục thằng khác nhào vô thay phiên làm thịt hai chị. Chúng ra vào quần quật, đùa giỡn thể xác hai chị suốt đêm. Đến tờ mờ sáng, bọn chúng làm bộ tịch thu lấy lệ một nửa số hàng rồi cho hai chị đi về không quên gởi kèm theo những lời trêu ghẹo tục tỉu.

Chị Liên cười cười kể tiếp:

- Về đến Sài Gòn, chị Mai hồng hộc thở ra: Tụi nó… tồi quá!. Chị Loan an ủi: Kệ nó, cái gì kia còn mất nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, rồi hai chị ra sông Bạch Đằng tắm rửa mình mẫy. Chị Loan nói với bạn: Tụi nó làm dữ quá, coi nè của tui sưng phồng lên đỏ hỏn, rát quá!.

Kể xong, chị Liên kết luận:

- Phải làm mau đi thôi, từ từ rồi chúng nó sẽ kiểm soát tới đường xe lửa, lúc ấy có muốn đi buôn cũng không được nữa đâu.

Rồi chị nói nhỏ:

- Ở ga xe lửa Sài Gòn đó, cứ mỗi chiều tối có mấy thằng cha mua hai ổ bánh mì kẹp thịt và hai bọc trà đá ở nách, kẹp tấm nệm đan bằng cói. Họ nháy nhó, rủ rê mấy người đàn bà không còn làm ăn gì được nữa ngủ qua đêm với họ.

Nhưng chị dặn thêm:

- Muốn làm gì thì làm nhưng đừng có ra chỗ đó nghen. Tụi mình phải nương tựa lẫn nhau mà sống. Đi buôn thì cần có bạn, đi bán cần có bè, nhưng nếu không có ai đi chung thì tôi sẽ đi một mình với thằng con trai. Tôi không để cho nó chui xuống cống kiếm cá nữa đâu, hồi hộp lắm!

Thế là chị Mạc quyết định theo chị Liên và chị Nguyệt lên Long Khánh buôn củi lậu. Mỗi chuyến đi kéo dài ba ngày khiến chị đuối sức, đứa con gái nhỏ 5 tuổi không phụ giúp được gì lại còn vướng bận những lúc nhảy tàu làm chị Nguyệt bực mình. May nhờ đứa con trai của chị Liên phụ giúp nên cũng đỡ được phần nào. Có lần chị Nguyệt bàn với chị Liên đi mua bán riêng, chị sằn sàng bỏ vốn cho chị Liên đi chung:

- Liên à, con Mạc hình như nó bị ho lao, vợ chồng thì dễ lây lang. Mày có thấy đôi vai của nó bị co rút lên không?

- Dạ thấy. Tội nghiệp, nó cũng ráng lắm mà.

- Mày lo cho mày đi. Thời buổi này nhân đạo là tự sát đó. Với lại mày thấy đó, tao đâu có vốn gì nhiều, nếu chậm chạp lỡ bị bảo vệ bắt một cái là hết vốn luôn.

Chị Liên ngẫm nghĩ: bà Nguyệt này thật ra đâu có tử tế gì, chẳng qua là bả nhờ có thằng Đức (con trai chị Liên) lanh lẹ nên mới chịu bỏ vốn ra đấy chứ, như vậy bà ấy lời thêm một công. Hình như đoán hiểu suy nghĩ của chị Liên nên bà Nguyệt tỏ vẻ thương thằng bé. Bà thường rủ thằng nhỏ: Đi ăn bún, con!. Đi thêm vài chuyến nữa thì chị Liên và bà Nguyệt buộc chị Mạc phải đi riêng. Chị Liên vỗ về bạn:

- Có gì thì chị cũng biết cách rồi đó, nếu không vốn nhi)ều thì buôn ít một chút cũng tạm đủ cho hai mẹ con sinh sống. Ráng lên!

Thấy mặt chị Mạc lộ vẻ lo lắng, chị Liên trấn an:

- Bà Nguyệt không chịu đi chung, thì chị cứ mua bán riêng cùng với tôi. Nếu như có chận bắt đột xuất cần phải tuôn củi và nhảy tàu thì thằng Đức con tôi dắt con Hoa giùm nhảy cho, đừng có lo.

Hai người quả phụ hẹn nhau là như thế, nhưng khi có cuộc chận bắt xảy ra thì ở trên các toa xe hỗn loạn lắm. Chị Mạc vừa quăng được hai bó củi xuống đám cỏ thì những bạn hàng khác cũng nhốn nháo cả lên, họ xô đẩy và chen lấn, tranh nhau tuôn củi xuống. Đứa con gái chị bị những bó củi quăng trúng chân khóc ré lên. Chị Mạc lúng túng, vừa sợ mất củi vừa sợ mất con, chị quay lại nhìn những bó củi, rồi quay lại nhìn con. Sao thế nhỉ, cái gì trong lòng chị thế này, ánh mắt con chị như sao trời nhấp nháy, tuổi thơ của chị đây mà. Chị chết điếng trong lòng rồi đưa tay ôm đứa con, nước mắt chị chảy ra, không biết là vì tiếc củi hay vì thương con, có lẽ cả hai. Bà Nguyệt và chị Liên đã nhảy xuống đường rày, nhìn chị Mạc la lên ơi ới:

- Ném củi xuống mau, bảo vệ tới kìa!

Đứa con trai chị Liên muốn đu người lên đoàn tàu để phụ chị Mạc ném củi xuống nhưng không kịp nữa, đoàn tàu từ từ đi vào sân ga, đám bảo vệ ùa ra, những con buôn ôm vội mớ hàng hóa bỏ chạy. Chị Mạc ôm con vào lòng nhìn người ta ôm những bó củi của chị chạy đi. Thế là mất hết. Chị bước xuống thềm sân ga, trước mặt là bóng tối.

Những ngày sau đó, người đàn bà gầy gộc ra đi. Đôi mắt chị Mạc thụt sâu vào hóc mắt, chị không biết làm gì nữa. Chút vốn liếng dành dụm được để đi buôn bay theo mây khói. Những cái quần, cái áo bán dần đi để cầm cự giữa chợ đời không còn nữa.

Chị Liên và đứa con trai đi theo chị Nguyệt vài chuyến nữa rồi rủ nhau đi Phan Thiết mua cá biển về bán ở Sài Gòn. Mùa cá đến rồi, nếu trời thương thì… cuộc đời đỡ khổ. Nhưng có một dạo bảo vệ xe lửa truy đuổi gắt gao, nhiều bạn hàng bị tịch thu hết cả hàng hóa. Chị Liên và chị Nguyệt nhờ có thằng Đức nhanh nhẹn nên thoát được nhiều chuyến hàng. Một hôm, trời mưa tầm tả, bảo vệ chia nhau ngăn chặn các toa xe. Để cứu lấy món hàng, thằng Đức và lũ nhỏ leo chuyền ra ngoài cửa sổ những toa xe. Một đứa tuột tay bị cuốn vào những bánh xe lửa, thân thể bị nghiền nát trên đường ray. Xe lửa về đến ga Thủ Đức rồi mà chị Liên vẫn chưa thấy đứa con trai đâu. Chị hỏi thăm lũ nhỏ, có đứa thấy thằng Đức leo lên mui xe lửa trốn thoát được bảo vệ. Nhưng đến ngày hôm sau chị Liên mới biết rằng khi xe lửa qua cầu Biên Hòa, con chị đã bị thanh sắt đánh vỡ đầu rớt xuống đường ray, thân xác bây giờ không biết được chôn cất nơi đâu. Chị Liên thơ thẩn, chị Nguyệt mất cả vốn không còn dám đi buôn nữa. Chị Mạc rời khu nghĩa địa ra ngồi ở bùng binh Chợ Sài Gòn đưa mắt nhìn qua bên kia đường.

Bên kia đường là sân ga. Trời đã tối, cửa hàng ăn uống quốc doanh đã đóng cửa, những sinh hoạt về đêm bắt đầu. Đủ mọi hạng người tụ tập về đây để ngủ qua đêm. Những người tài xế nằm dài trên tấm nệm cói trải trên nền xi măng để cho những người đàn bà tới đấm bóp, giác hơi xoa nắn, thư giãn gân cốt. Tại một góc của nhà ga là chỗ để khách lỡ đường ngủ đêm chờ tàu. Ở đó, có một số phụ nữ vì hoàn cảnh sống khổ sở đến ngồi chờ khách. Họ không biết làm gì vì không có đồng vốn nào cả, nhờ có chút nhan sắc nên khi đêm về họ lấy thân làm vốn. Nhưng vào thời buổi khó khăn, những người đàn ông cũng không rộng rãi cho lắm, họ trở nên thô bạo và không còn sòng phẳng như trước. Cái giá để trả cho một cuộc tình qua đêm là một khúc bánh mì, khoảng hơn gang tay, kẹp những lát thịt xắt mỏng (giá 500 đồng, bằng 1/4 dĩa cơm), một bọc ny lông trà đá và một tấm nệm cói để hai người đắp chung. Chỉ người phụ nữ nào may mắn lắm mới được trả bằng tiền mặt, nhưng cũng không là bao.

Vào mỗi buổi chiều, những người đàn ông ngồi trên băng ghế đá ở công viên, bùng binh, bến xe buýt để lựa chọn bạn… tình qua đêm. Bên cạnh họ để sẵn hai ổ bánh mì, hai bọc trà đá và tấm nệm cói để cho các bạn tình biết mà tìm đến. Khi đến với nhau, tuy không nùói ra nhưng họ ngầm hiểu là chỉ có họ với nhau mà thôi, nhưng vào khoảng nửa đêm có khi có thêm dăm ba người đàn ông khác xà vào ăn ké, dĩ nhiên là miễn phí. Người đàn bà khốn khổ kia chỉ biết im lặng chịu đựng vì có kêu cứu cũng không ai đến can thiệp.

Có những đêm anh em phế binh chúng tôi nằm ngủ ở một góc nhà ga chờ sáng theo tàu lửa đi bán nhang xa, nhìn những tấm nệm phập phồng dưới ánh đèn vàng vọt, tiếng thở hồng hộc và tiếng cựa quậy lục đục của người đàn ông kèm theo tiếng rên rỉ của người đàn bà, rồi tiếng chửi mắng tục tằn của người đàn ông không thỏa mãn, chúng tôi hiểu rằng trong bước đường cùng những người sống không lý tưởng vùi dập lẫn nhau như những con vật.

Nhưng cũng có những người đàn bà đem bán thân xác mà không có người mua. Đó là những người đánh lỡ mất tuổi thanh xuân, những bà quả phụ cô đơn. Cuộc sống khắc nghiệt ở hè phố làm mất đi chất tươi trẻ trên nét mặt, nụ cười, họ già đi mau chóng, thân hình khô héo quắt queo như trái táo tàu. Dù có xoa lên mặt chút hương phấn nhưng họ cũng không còn hấp dẫn ai. Chị Nguyệt cũng vậy, hết vốn đi buôn chị ra ngồi ở bùng binh cùng với chị Loan. Có những người đàn ông mua bán ở chợ trời, tuổi chỉ đáng con chị, biết chị cần có miếng ăn để sống cũng gọi chị bằng em. Chị không lấy đó làm giận mà còn mừng. Mừng là vì chị vẫn còn giá trị. Đã hai đêm rồi, mặc dầu chị đã xin của chị Loan một chút phấn để xoa lên mặt và cũng đã đi lại mời mọc một số người đàn ông nhưng không ai chịu chia sẻ với chị ổ bánh mì kia.

Tối nay trời mưa lạnh lẽo, hình như có bão hay sao ấy. Chị Mạc cảm giác như có kim châm ở trong bao tử, sự co thắt của các cơ thịt làm chị run rẩy, xương có vẻ như dòn ra, cử động kêu lụp cà lụp cụp. Cơn đau bao tử làm chị khó chịu, nước lạnh uống vào cứ sôi óc ách. Tay chân chị xê dịch khó khăn. Chị buồn ngủ và ảo giác càng đến với chị nhiều hơn, chị cố xua đuổi mà không được. Chị biết mình sắp mê đi nhưng bản năng sinh tồn thúc chị bước sang bên kia. Bên kia đường là vùng đất cấm, ai sa chân vào rồi thì khó bước ra.

Cũng ở bên kia đường, xéo góc với nhà ga xe lửa là cửa hàng ăn uống quốc doanh, con gái chị đang chờ chực khách ăn xong, nó chạy vào ăn húp những gì còn sót lại. Chị Mạc mơ màng nghĩ đến những tô hủ tiếu. Không biết thực khách bên ấy có ăn thêm bánh mì không nhỉ?, chị tự hỏi. Nếu có ăn thêm bánh mì thì nước lèo sẽ chẳng còn lại bao nhiêu, con chị lấy gì mà húp. Phần lớn khách vào cửa hàng ăn uống quốc doanh là giới bình dân, lao động, họ thường chấm bánh mì vào nước hủ tiếu để cho thêm no.

Nghĩ tới bánh mì, cơn đói thúc hối chị Mạc nhìn vào sân ga. Ở đây có những người đàn ông cặp nách hai ổ bánh mì, tay cầm hai bọc ny lông trà đá và tay kia cầm tấm nệm cói. Tấm nệm cói khiến chị Mạc liên tưởng đến trời đêm, những cơn mưa dai dẵng và mùi vị của khúc bánh mì kẹp những lát thịt ba rọi mới thơm ngon làm sao. Chị không còn quan tâm đến đứa con gái ở bên kia cửa hàng ăn uống nữa, chị nghĩ về mình. Cảm giác xấu hổ chỉ thoáng qua, chị nhớ lại câu nói của chị Loan: Kệ nó, cái gì kia còn mất, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Người ta như thế nào kia mà còn nghĩ đến quyền lợi riêng, phản bội cả quê hương, mình chỉ là một phụ nữ nghèo hèn còn gì nữa đâu để mà gìn giữ. Chị Mạc muốn được sống như những phụ nữ kia, được cho ăn và được cho tình.

Chị Hạnh cũng vậy, chị đã im lặng. Chị không làm được như chị Loan, mặc dù chị thừa nhận chị Loan nói đúng. Những người đàn ông thua trận cả rồi, chồng chị là một cựu lính Dù chết trong trại cải tạo. Chị Hạnh không còn vốn liếng để đi buôn than nữa nhưng vẫn không sao bước nổi sang bên kia đường. Chị vẫn thường hồi tưởng đến anh, những lần về phép trên chiếc jeep, bộ quần áo kaki rằn ri, những đôi giày bốt đờ sô bóng loáng. Cuộc sống của anh thật quá hào hùng. Không, chị không thể bước sang bên kia đường. Những kỷ niệm xưa giữ chân chị lại bên này đường. Chị Hạnh nói với chị Mạc bên kia đường là những mùi mồ hôi, mùi rượu đế và những lời bỡn cợt sổ sàng của những người quá tầm thường so với chồng chị. Nói xong chị Hạnh buồn bã nhìn xuống lề đường, rồi quay người bước đi.

Những kỷ niệm đó là của chị Hạnh, còn mình có còn gì nữa để mà hồi tưởng?, chị Mạc tự biện hộ thầm. Ngoài những mất mát chất chồng, những thiếu thốn thường nhật, những tai họa chờ chực, chị cố nhớ về những buổi chiều anh Mạc đi bán nhang về mang một chút gạo mốc, những khúc mì vụn, những gốc rau muống, một chút bột ngọt, tất cả làm chung thành một món ăn ngon lành. Nhờ vậy mà chị cầm cự cùng với chồng con. Nhưng lúc ấy còn anh kia, còn những lời hứa hẹn tuy tuyệt vọng nhưng đầm ấm ngọt ngào: Ngày nào đó có chút vốn, mình sẽ về quê. Còn bây giờ thì còn gì nữa đâu, mắt chị mờ đi, tai mơ hồ nghe thoang thoảng tiếng xe cộ.

- Má! - tiếng gọi của con gái làm chị Mạc thức giấc. Hóa ra là chị vừa chợp mắt thiếp đi trên băng ghế đá. Đứa con gái nhìn chị, miệng nó nhai nhóp nhép nửa củ khoai luộc. Chị Liên gặp nó ở cửa hàng ăn uống và dắt nó qua với chị. Chị Liên đưa cho chị nửa củ khoai, nói:

- Hồi này mưa quá nên khoai củ ở mấy vựa bị sùng thối, hư hao nhiều lắm. Mình chịu khó đi vòng vòng ở Chợ Cầu Ông Lãnh là kiếm cả rổ.

Chị Liên nhìn bạn nhai nuốt cả vỏ khoai, nói tiếp:

- Mấy chủ vựa sợ những củ khoai sùng lây qua những số khoai còn lại nên đổ bỏ rất nhiều. Mình chịu khó lượm về lựa lại rồi gọt bỏ những chỗ hư đem về luộc, sáng mang ra chợ bán cũng có được cái ăn qua ngày.

Chị Liên nhìn sang bên kia đường phê bình:

- Tội gì mà đem thân xác ra để cho chúng dày vò.

Chị Mạc im lặng, mãi miết ăn ngấu nghiến những củ khoai luộc. Đứa bé gái vô tư ngồi gõ cái lon sữa bò theo điệu nhạc mới: Đêm qua em mơ gặp bác Hồ, râu bác dài tóc bác bạc phơ….

Chị Liên ngồi suy nghĩ vẫn vơ, chị Liên thở dài, đối với chị, không yêu thì… không làm được chuyện ấy, chị sẽ không bao giờ bước sang bên kia đường. Chị chỉ còn một mình, nhẹ lo hơn chị Mạc. Thằng Đức, kỷ vật cuối cùng, dấu ấn của tình yêu đối với chồng chị, anh Nguyễn Văn Hơn, đã mất. Chị không còn gì nữa ngày hôm nay, nhưng những kỷ niệm thời học trò nhẹ nhàng băng ngang dòng tâm tư của chị. Bảy năm yêu thương, bảy năm h°ạnh phúc. Những lần chồng về phép, chị rất thích nghe những bản nhạc Buồn trong kỷ niệm, Tấm ảnh ngày xưa với tiếng ca não nùng thấm thía của bà chị Thanh Thúy. Ờ, rồi lại còn Tàu đêm năm cũ nữa. Đem về trả cho tôi người xưa… chồng chị cười nói: Cũng là con tàu thôi, khi đem người đi thì buồn, lúc đem người về lại em cảm thấy gì?. Chị nhìn anh lo sợ. Có khi nào…, chị không dám nói hết ý.

Có khi nào con tàu đem người thân đi mãi hay không? Ngoài đời chị vẫn nhìn thấy những chiếc GMC chở quan tài phủ cờ vàng chảy ba dòng máu đỏ, máu của người chiến binh đã đổ ra cho đất nước, và những chiếc khăn tang chan hòa nước mắt buộc chặt trên đầu các thiếu phụ và những trẻ thơ. Chiến cuộc ngày càng khốc liệt hơn, những lần về phép của anh cũng thưa dần. Chị Liên còn nhớ rõ ánh mắt buồn bã của chồng trong lần chia tay cuối cùng, anh đã đi biền biệt không về. Một ngày kia, người ta báo tin anh tử trận. Chị Liên gia nhập vào đội quân tóc dài mặc áo đen, đầu chích khăn tang khóc chồng, ôi thật buồn bã.

Mãi miên man suy nghĩ, tưởng nhớ vu vơ, chị Liên giật mình liếc mắt tìm bạn. Chị Mạc không còn ở bên này bùng binh nữa. Vừa ăn xong củ khoai luộc, chị Mạc vội bước sang bên kia đường, biến mình trong khu nhà ga với ánh đèn vàng, những tấm nệm cói phập phồng và những tiếng thở hồng hộc.

- Trong những tấm nệm cói ấy vang lên tiếng thở, họ thở ấy ra sao nhỉ? - chị Liên nhắm mắt liên tưởng.

Tưởng tượng những tấm nệm cói phập phồng, chị Liên rùng mình ớn lạnh. Chị cảm thấy cô đơn, chị ao ước: Phải chi được nghe tiếng thở của anh Hơn trong tấm nệm ấy thì… sung sướng biết bao. Chị mơ tưởng những giây phút êm đềm, ấm áp của ngày xưa. Chị có cảm tưởng như nhìn thấy đôi mắt của anh, đôi mắt sao giống đứa con trai của chị quá. Chị mỉm cười vu vơ. Trong giấc mơ, chị thấy anh trở về trên xe bước xuống cùng những người bạn lính, có cả lá cờ vàng nữa… Nhưng rồi chị hốt hoảng. Người đứng trước mặt không phải là chồng chị, mà là người báo tin anh tử trận. Người ấy nói nhiều lắm, chị ù cả tai không nghe gì cả.

- Làm gì mà ngồi đây có một mình hả em?

Chị Liên giật mình mở mắt, trướưc mặt là một gã đàn ông, tay cầm ổ bánh mì và bọc trà đá.

- Ăn đi em, anh đã ăn rồi. Đêm nay sao buồn quá.

- Không, cảm ơn.

Chị Liên đứng dậy bỏ đi ra bờ sông Bạch Đằng. Gió đêm làm chị cảm thấy lạnh hơn. Dòng sông đen lấp loáng ánh đèn. Chị nhớ đến cái chết của chị Trúc, xác chị nằm ngữa trương phình lên. Không, mình không được phép tự tử, mình là người Công giáo. Lạy Chúa, xin nâng đỡ con, dẫu cho có thế nào con vẫn tin Chúa, Chúa ơi!, chị Liên khấn thầm mặt hướng lên trời. Mỗi khi nghe tin có vài anh em phế binh thân quen chết đi, chị vẫn thường cầu nguyện. Chị vẫn mong là ngày mai rồi sẽ khác đi.

Mùa mưa cũng vừa sắp hết, Chị Liên sửa soạn rời khỏi khu vực nhà ga xe lửa Sài Gòn. Chị nói với các chị bạn là cần đi xa để quên những chuyện buồn. Chị muốn về quê nhưng quê hương đâu còn nữa. Chị đi bộ về phía Chợ Lớn, lạc vào giáo xứ Quận 8. Buổi trưa chị ngồi nghỉ chân bên cổng nhà thờ Bình An Thượng. Chị nhìn lên tượng Chúa Giêsu chịu khổ nạn cầu nguyện. Ông cha xứ già, tóc bạc phơ, dáng người mệt mỏi từ trong nhà thờ đi ra nhìn thấy chị. Chị nhìn cha. Hình ảnh ông cha xứ già sao giống đấng Thánh Phêrô quá. Cha hỏi, chị lễ phép trình bày hoàn cảnh của mình. Chị không mong cầu điều gì khi trình bày hoàn cảnh của chị, chị có cảm tưởng như đang xưng tội trước vị cha xứ, lòng chị trở nên nhẹ nhõm hơn. Thế thôi.

Nghe xong cha xứ bước vào lại giáo đường. Một lúc sau nghe tiếng cha gọi, chị Liên đi vào. Cha mở ngăn kéo, trong có số tiền lùớn nhưng là toàn là tiền giấy nhỏ, chị hiểu đó là tiền ủng hộ của giáo dân dâng hiến trong những ngày lễ. Cha xứ đã cất giữ những món tiền đó trong nhà thờ. Chị ứa nước mắt nhìn cha. Ông cha xứ già cẩn thận gói số tiền ấy vào tờ giấy báo và run run cầm đưa tận tay chị. Nước mắt chị trào ra, ướt cả khuôn mặt. Cha gọi người làm vườn nhờ đưa chị đến bến đò qua bên kia sông để tránh không bị công an làm khó dễ. Chị quay lại nhìn cha chào từ giã. Cha dặn chị: Con nên rời bỏ cuộc sống vỉa hè ấy đi và chúc lành: Chúa nâng đỡ bước chân con. Hãy cầu nguyện thường xuyên.

Chị Liên quay lại nhà ga xe lửa Sài Gòn, tay chị cầm theo ba ổ bánh mì kẹp thịt ba rọi trông thật ngon lành. Nhưng chị không gặp được chị Mạc và con Hoa. Ở đấy vừa có chiến dịch thu gom những người sống bụi đời vô gia cư, vô nghề nghiệp, ăn ngủ ngoài hè phố. Nhà nước cộng sản Việt Nam không bằng lòng để những người trước kia tuân theo lệnh đi xây dựng vùng kinh tế mới nay trở về sống ở hè phố, bêu xấu chế độ. Lần này tất cả bị đưa đi những nông trường xa xôi khác. Chị Liên mò vào những xóm nghĩa địa hỏi thăm, nhưng không ai biết mẹ con chị Mạc ở đâu. Mãi về sau gặp lại chị Nguyệt già, chị Liên mới biết là chị Mạc bị đưa đi cải tạo lao động ở nhà nuôi Ba Thôn, huyện Hóc Môn.

- Còn đứa con gái? - chị Liên hỏi.

Chị Nguyệt nhún vai:

- Thì họ tách hai mẹ con ra chớ sao, nghe đâu con nhỏ được đưa về cô nhi viện gì đó ở Gò Vấp.

CÒN TIẾP......

-- nguoicaonien (xuanhutraidat@yahoo.com), June 28, 2004.


Response to Những Mảnh Ã�ời Rách Nát: Có một niềm tin

Chị Liên ngồi thơ thẩn ở bùng binh nhìn qua sân ga, sau đợt truy quét sinh hoạt vẫn y như cũ. Bên kia nhà ga là kiếp người lầm than tủi nhục, những người sống vật vờ đi đi lại lại, họ không còn cách nào để sống khác hơn. Vẫn là những ổ bánh mì, những trả giá, kỳ kèo cho mỗi cuộc tình. Chị nghĩ về chị Mạc và đứa con gái, họ đã sống như những con chó ghẻ, bị rẻ rúng, đuổi xô. Chị nghe phong phanh tình hình có nhiều biến chuyển. Khối cộng sản ở Đông Âu đang bị tan rã, Liên Xô đã có tổng thống. Cộng sản Việt Nam đã bắt chước đưa ra những việc cần làm ngay của đảng và nhà nước. Chị đã nhìn thấy những cái quẹt ga thay cho cái quẹt dầu hôi. Đất nước đang đổi mới. Những bộ quần áo từ nước ngoài gởi về đã thấy bày bán ở các chợ trời, nhiều người đã liên lạc được những người thân ở hải ngoại. Đường phố cũng đã khác xưa, những ngôi nhà cao tầng và nhiều khách sạn đang được xây dựng lên. Đêm tối đã thấy những ánh đèn màu xanh đỏ chớp loáng trên những bảng hiệu. Nhà nước đang mở cửa đây mà. Sự thay đổi này đâu phải là … vì dân. Họ thay đổi để tồn tại, để khỏi bị dân chán ngán như Đông Âu, để nuốt trôi miền Nam.

À, thì ra nhà nước cộng sản đang dùng sự hào nhoáng xa hoa để che đậy những đen tối của sự thật. Họ biết là dư luận các nước bên ngoài đang hướng về Việt Nam, họ đã trả tự do cho những sĩ quan đi học tập cải tạo. Còn ông cha Thủ ở nhà thờ Đồng Công, xã Tam Hà, huyện Thủ Đức thì sao nhỉ? Họ đã thả cha ra hay chưa? Tội nghiệp, cha đã ngoài tám mươi mà không thoát khỏi lao tù. Hòa thượng Thích Trí Thủ nghe nói rằng đã ức quá mà chết. Còn hai ông Phạm văn Thương (Tuệ Sỹ) và Lê Mạnh Thát (Trí Siêu) đã bị họ tử hình chưa? Liệu những dư luận của các nước có giúp gì được cho họ hay không?

Những người bất hạnh sống trên hè phố đang bị bắt nhốt, xua đuổi ra khỏi thành phố, đang âm thầm gục chết ở vỉa hè, góc chợ, công viên có được ai chú ý tới không? Liệu sự mở cửa này có làm cho các nước bên ngoài công nhận màu cờ đỏ như máu kia không, có quên đi màu cờ vàng hiền hòa như tấm áo khoác của những nhà sư tu hành theo hạnh khất sĩ hay không?

Tự nhiên chị Liên cảm thấy quá mệt mỏi. Bộ ngực chị lép xẹp, đôi vai khô gầy, đôi chân chị nặng nề, không còn đủ sức để đi tiếp đoạn đường nữa. Chị nhìn thấy những người đàn bà và trẻ em mời mọc khách qua đường những điếu thuốc lá ngoại. Chị nghe nói ở Củ Chi, những nơi gần cửa khẩu, có những người đi buôn lậu thuốc lá ngoại, sống được lắm. Chị nhìn xuống gói giấy báo bọc số tiền của vị cha xứ già của giáo xứ Bình An Thượng. Tình thương của giáo dân đây mà. Nghị lực của Thiên Chúa đang tiếp sức cho chị. Ờ, tại sao chị lại không đi về Củ Chi một chuyến xem sao. Ở đấy còn có nhỏ bạn học ngày xưa, ở giáo xứ Bắc Hà, gần căn cứ Đồng Dù có cây phượng vĩ. Năm học cuối của mùa hè xưa, hai đứa đã từ giã nhau, nó đi lấy chồng, còn chị gặp anh Hơn. Hai đứa đã tặng nhau cuốn lưu niệm, trong đó có ghi những dòng lưu bút và ép vào đó những cánh hoa phượng. Cánh phượng ấy bây giờ có lẽ đã khô theo thời gian nhưng những cảm xúc ngày xưa vẫn tươi mãi trong lòng chị. Ngày xưa chị đi xây dựng kinh tế mới theo chủ trương của nhà nước cộng sản, con Hoa ngăn cản:

- Hãy ở lại thành phố, Liên ơi. Mình không biết nói sao về cái lòng tốt có vẻ như lo cho dân kia. Nó có vẻ tuyên truyền, xảo trá làm sao ầy. Chúa đã dạy hãy xem trái thì sẽ biết kẻ trồng cây, hãy nhìn xem những gì họ đã làm… Đừng để bị xí gạt.

Nhưng tiếc thay ngày ấy chị đã không còn cách nào khác, chị bị liệt kê vào thành phần gia đình ngụy, có chồng chết trận nên phải đi vùng kinh tế mới để rồi bây giờ… chị ngồi đây, tứ cố vô thân. Chị Liên đứng dậy rời bùng binh chợ Sài Gòn, bỏ nhà ga xe lửa, tìm đường về Củ Chi trên chuyến xe cuối ngày. Xe lăn bánh, chị nhìn lại hè phố Sài Gòn lần nữa và nói với chính mình: Chúng sẽ không giết chết được anh đâu. Bởi vì anh đang sống trong em và thở bằng hơi thở của em. Chị nguyện sẽ sống xứng đáng với sự hy sinh của anh, người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa của chị. Chi Liên đã ở lại bên này đường vì chị còn giữ vững niềm tin, chị sẽ nối tiếp bước đi của chồng. Bỗng nhiên chị Liên ứa nước mắt: Nếu như Chúa chưa tuyệt con đường sống của con thì giúp con thức tỉnh các thế hệ mai sau cảnh giác, không để vi khuẩn vô nhân xâm chiếm tâm hồn.

Tới nơi chị đi bộ về hướng giáo xứ Bắc Hà, về nhà người bạn gái thuở học trò xưa. Trong xóm đạo này có rất nhiều người Bắc di cư năm 1954, không cộng sản. Họ là những người ghê sợ cộng sản như một cơn dịch bệnh.

* * *

-- nguoicaonien (xuanhutraidat@yahoo.com), June 28, 2004.


Moderation questions? read the FAQ