TN TRỌNG NHN QUYỀN

greenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread

TN TRỌNG NHN QUYỀN

Phần 1. TN TRỌNG PHẨM GI CON NGƯỜI, TRONG Đ C QUYỀN TỰ DO KHNG BỊ:

a. Tước đoạt cuộc sống một cch ty tiện v bất hợp php

Khng c cc vụ st hại chnh trị trong năm qua. Tuy nhin, c cc bo co về cc vụ giết người do cc lực lượng an ninh thực hiện. Trong thng 7, c tin cảnh st ở huyện Xn Mần, tỉnh H Giang đ đnh chết Vang Seo Giao, một cựu Đảng vin đ chuyển sang theo Thin cha gio, v nm xc anh ta xuống suối v đ khng từ bỏ đức tin Tin lnh của mnh. Cũng c tin l cảnh st đ đnh chết một tn đồ Tin lnh khc, Mua Say So, v đ chỉ trch Chnh phủ về việc Chnh phủ được cho l đ đnh chết anh của anh ta, Mua Bua Seng. Trong thng 9, cảnh st tỉnh Nam Định đ đnh chết Trần Minh Đức khi anh ny bị bắt giam sau một vụ xung đột gia đnh. Khng c bo co g về những biện php no đ được p dụng đối với cc quan chức dnh dng đến cc vụ giết người ny. Trong năm qua, c tin cảnh st tỉnh Quảng Nam đ tra tấn Nguyễn Ngọc Chu đến chết trong khi hỏi cung anh ta khi anh ta bị truy tố về tội giết người. Viện Kiểm st Nhn dn Tối cao đ đề nghị truy tố 3 sỹ quan cảnh st bị quy l đ gy ra vụ đnh chết người ni trn; vụ ny đang chờ được xử l vo cuối năm 2003.

Hai sĩ quan cảnh st ở tỉnh Vĩnh Ph bị co buộc đ tra tấn đến chết Khổng Văn Thời trong thng 1 năm 2002 v đang đợi ra ta vo cuối năm. Hai gim thị nh t bị buộc tội giết chết phạm nhn Phạm Văn Dũng ở tỉnh Hải Dương thng 9 năm 2002, v cũng đang đợi ra ta v ngộ st vo cuối năm nay.

b. Mất tch

Đ c tin tức đng tin cậy ni rằng một số người dn tộc thiểu số ở Ty Nguyn v Cao nguyn Ty Bắc đ bị bắt hoặc bị giam giữ nhưng đ khng trở về với gia đnh họ.

Thng 8, Ta n Nhn dn Thnh phố Hồ Ch Minh thng bo với gia đnh của Phạm Văn Tường, một cựu ha thượng trong tổ chức Phật gio Thống nhất Việt Nam (UBCV) trước đy c tn l Thch Tr Lực cho đến khi hon tục năm 1997, rằng ng đang bị giam ở Thnh phố Hồ Ch Minh chờ xt xử về một số tội danh khng được nu r. Thng 7/2002, c tin Tường đ bị p buộc phải quay về nước từ Campuchia trong khi ng đ được Cao ủy Lin Hợp Quốc về Người Tị nạn trao quy chế tị nạn ở Campuchia. Ta n đ hon xt xử ng, kế hoạch ban đầu l xt xử vo ngy 1/8; gia đnh ng đ khng được đến thăm ng, v đến cuối năm 2003 vẫn chưa c ngy giờ xt xử mới.

Thng 8/2002, ở huyện M'Drak, tỉnh Đak Lak, cảnh st đ đối đầu với 120 dn lng đang cố gắng ngăn chặn việc bắt giữ một linh mục đạo Tin lnh l người dn tộc thiểu số tn l Y Su Nie v hai người con trai lớn của ng ta. Sau một lc đi co hỗn loạn, cảnh st đ bắt tất cả 120 người. Phần lớn những người bị bắt đều được tha sau vi ngy nhưng c từ 20 đến 30 dn lng khng thấy trở về nh. Cảnh st khng cng nhận đ bắt giữ họ. Thng 10/2002, cảnh st cho biết rằng họ đ bắt giữ Y Su Nie v một người khc.

Cũng vo thng 8/2002, ở Đak Lak, cảnh st bắt giữ 240 người trong một cuộc họp tại một nh thờ tại gia. Phần lớn những người bị bắt giữ đều được tha trong vi ngy nhưng 47 người khng thấy trở về nh. Cảnh st khng thừa nhận l đ bắt giữ họ.

c. Tra tấn v cc hnh động đối xử hoặc trừng phạt độc c, v nhn tnh hoặc hạ nhục

Luật php nghim cấm lạm dụng thể xc; tuy nhin cảnh st đi khi vẫn đnh đập người bị tnh nghi trong qu trnh bắt giữ hoặc trong khi họ bị giam giữ. C tin cảnh st đ đnh chết t nhất hai can phạm bị giam giữ trong năm 2002 (xem Phần 1.a).

Khng c thng tin g về những biện php no đ được p dụng đối với hai gim thị được cho l đ đnh trọng thượng một phạm nhn tại một nh t ở tỉnh Hải Dương vo thng 8/2002.

C dư luận ni l điều kiện giam giữ t nhn thường l rất h khắc, nhưng ni chung khng đe dọa đến tnh mạng của họ. Trong năm qua, cũng như trong năm 2002, cc nh ngoại giao được chọn lọc lm quan st vin đ đến thăm t nhất 2 nh t v thấy cc điều kiện ở đ thật khắc khổ nhưng nhn chung chấp nhận được.

Đn ng v đn b được giam ring trong nh t. Những tội nhn t tuổi được cch ly với những người trưởng thnh. Qu chật chội v đng người, khng đủ ăn v điều kiện vệ sinh tồi tệ vẫn l những vấn đề nghim trọng ở nhiều nh t.

C dư luận cho rằng cc t nhn, kể cả những người bị giam v cc l do chnh trị, bị điều chuyển một cch độc đon đến cc khu biệt giam đồng thời bị tước bỏ quyền được đọc v viết cc ti liệu tới vi thng. Khng như cc năm trước, khng c tin g ni rằng một số phạm nhn đ bị biệt giam trong năm qua.

Những can phạm chờ xt xử thường được giam ring rẽ với cc phạm nhn đ bị kết n v khng c quyền được thn nhn đến thăm. Cc quan chức lnh sự được php gặp cc can phạm l cng dn nước họ nhưng thường phải sau một khoảng thời gian chờ từ 4 đến 8 tuần. Khng như cc năm trước, khng c tin g ni rằng điều kiện giam giữ đối với những can phạm chờ xt xử th khắc nghiệt hơn so với những người đ bị kết tội hoặc kết n, tuy nhin, can phạm chờ xt xử đi khi khng được tiếp xc với luật sư hoặc người nh. Phần lớn t nhn đều được chăm sc y tế cơ bản. Một số t nhn chnh trị v t nhn khc khng được quyền gặp thn nhn. Cc t nhn ni chung phải lm việc nhưng khng nhận được tiền cng (xem Phần 6.c). Cc t nhn bị kết n lao động khổ sai phn nn rằng họ khng được ăn uống v chăm sc y tế đầy đủ để giữ sức khỏe, đặc biệt l ở những khu vực ở vng su đầy bệnh tật. Mặc d cc t nhn chnh trị v tn gio thường bị giam giữ trong điều kiện khắc nghiệt v hạn chế về chăm sc y tế ở cc nh t trong vng su như trại Z30a tại Xun Lộc, một khu vực bị cch ly ở tỉnh Đồng Nai, khng c bằng chứng cho thấy điều kiện ở đy khc với những nh t c cc t nhn bnh thường.

Trong năm qua, cũng như trong năm 2002, Chnh phủ đ cho php cc nh ngoại giao được chọn lọc lm quan st vin đ đến thăm cc nh t, tuy nhin, Chnh phủ đ khng cho php Uỷ ban Chữ thập Đỏ Quốc tế đến thăm cc t nhn.

d. Bắt giữ, giam cầm hoặc buộc lưu vong một cch ty tiện

Php luật nghim cấm việc bắt bớ v giam giữ độc đon, tuy nhin, Chnh phủ tiếp tục bắt giữ v giam cầm cng dn một cch ty tiện. Một vi người đ bị bắt giữ v giam cầm v đ thể hiện quan điểm chnh trị v tn gio của họ một cch ha bnh. Ngoi ra, đ c tin l một vi người bị bắt hoặc giam cầm trong năm 2002 đ khng trở về nh (xem Phần 1.b). Bộ luật Tố tụng Hnh sự quy định nhiều quyền đối với những người bị giam cầm, trong đ c quyền của người bị buộc tội được mời luật sư c mặt trong thời gian bị hỏi cung; tuy nhin, trn thực tế đi khi Chnh phủ phớt lờ những quyền tự bảo vệ hợp php ny. Hơn thế nữa, một văn bản đ tồn tại nhiều năm nay hướng dẫn về biện php quản chế hnh chnh cho php nhn vin an ninh c quyền lực rộng ri c thể bắt cc c nhn phải chịu quản thc tại gia, nếu họ tin rằng người bị tnh nghi l mối đe dọa đối với "an ninh quốc gia" hoặc thậm ch v cc l do t nghim trọng hơn, m khng cần xt xử.

Bộ luật Hnh sự quy định thời hạn mười hai thng cho việc giam giữ để điều tra, tuy nhin, đi khi Chnh phủ giam giữ người hơn 1 năm theo quy chế ny. Khng c quy định về thời hạn đối với việc hội đồng xt xử (một cơ chế bao gồm t nhất một thẩm phn quan ta v 2 hội thẩm vin) ra phn quyết về một vụ n (xem Phần 1.e), tuy nhin, c quy định rằng trong vng 3 thng phải xt xử, bc bỏ, hoặc trả lại hồ sơ vụ n để điều tra lại một khi thời gian điều tra mười hai thng kết thc. Trước khi bị chnh thức buộc tội, một người bị giam giữ c quyền thng bo cho gia đnh về tnh trạng của mnh, v trong hầu hết cc trường hợp, cảnh st thng bo cho gia đnh về nơi người đ bị giam giữ. Người bị giam giữ c thể lin lạc với luật sư trước khi bị buộc tội, nếu được thủ trưởng cơ quan điều tra cho php. Sau khi chnh thức bị buộc tội, người bị giam giữ c quyền lin lạc với luật sư, tuy nhin khng r l quyền ny c được tn trọng trong thực tế hay khng.

Viện Kiểm st Nhn dn Tối cao (cơ quan c trch nhiệm điều tra cc vụ n v đưa ra truy tố) tống đạt cc lệnh bắt giữ, ni chung l theo yu cầu của cơ quan cng an, tuy nhin, cảnh st c thể bắt người m khng cần lệnh, căn cứ vo khiếu kiện của một bn về vụ phạm tội. Trong những trường hợp đ, Viện Kiểm st phải tống đạt lệnh bắt giữ c hiệu lực trở về trước. Trừ khi được kiểm st vin điều tra ủy quyền cụ thể, cơ quan cng an thường cấm người bị giam giữ khng được tiếp xc với luật sư của mnh trong thời gian viện kiểm st đang điều tra vụ n, c thể ko di đến một năm v c thể khng đưa ra lời buộc tội chnh thức no. Tương tự, cc thn nhn c thể thăm người bị giam giữ chỉ khi được nhn vin điều tra cho php. Thời gian giam giữ trước khi xt xử được tnh cho đến khi bị kết tội v tuyn n.

Ta n c thể buộc nhiều người phải chịu quản chế hnh chnh với mức tới năm năm sau khi hết hạn t giam. Những quy định ny được thi hnh khng thống nhất. Cc quan chức Chnh phủ sử dụng biện php quản chế hnh chnh đối với những người bị quản thc tại gia với mức tới hai năm m khng cần xt xử (xem Phần 2.d). V dụ, t nhất 3 nh sư của UBCV đ bị kết n hai năm quản thc tại gia vo thng 10 v cho đến cuối năm 2003 vẫn bị quản thc tại gia.

Những người bị bắt v by tỏ quan điểm một cch ha bnh bị buộc tội theo một số điều luật của Bộ luật Hnh sự, luật ny đặt ngoi vng php luật những hnh vi chống lại Nh nước. Ngy 17/3, cảnh st bắt giam nh hoạt động dn chủ Nguyễn Đan Quế v đ cung cấp cc thng tin chỉ trch đất nước cho cc nh bo nước ngoi (xem Phần 2.a). Ngy 18/6, một ta n H Nội đ kết n Bc sỹ Phạm Hồng Sơn 13 năm t v 3 năm quản thc tại gia (xem Phần 2.a). Bản n của ng đ được giảm xuống năm năm t giam tại phin phc thẩm. Ngy 31/12, Nguyễn Vũ Bnh, một nh bo bị bắt giam hồi thng 9/2002, bị một ta n ở H Nội kết tội l gin điệp sau khi ng chỉ trch hiệp định bin giới m Việt Nam k với Trung Quốc v gửi bản điều trần về cc vấn đề nhn quyn ở Việt Nam đến một chnh phủ nước ngoi. Bnh bị kết n 7 năm t giam v 3 năm quản thc tại gia. Cc nh ngoại giao v cc phng vin nước ngoi đ khng được php đến dự cả hai phin ta ni trn.

Cảnh st đ thu gom trẻ lang thang ở H Nội v Thnh phố Hồ Ch Minh v tạm giữ cc em ở cc trại trẻ em trước khi diễn ra Đại hội Thể thao Đng Nam vo thng 12.

Trong năm 2002, nh hoạt động Nguyễn Khắc Ton đ bị kết n mười hai năm t giam v đ pht tn cc bi viết chỉ trch Chnh phủ trn Internet.

Thng 12/2002, cảnh st bắt giam nh hoạt động dn chủ Phạm Quế Dương v Trần Văn Khu (xem Phần 2.a), đến cuối năm họ vẫn chưa được xt xử. Ngoi ra, 19 lnh tụ Tin lnh người Hmong, trong đ c Mua A Ho, Cu Van Long v Sua Song Vu, c thể vẫn cn bị giam giữ. Khng r liệu một vi người được cho l đ bị giam giữ từ cc năm trước bao gồm V Tấn Su, Phan Thị Tim v Trần Thị Duyn, L Hữu Ha, M Văn Chnh v Lu Seo Dieu đ được xt xử hay chưa. For comments and inquiries, please email to uscongenhcmc@pd.state.gov For Visa Issues, please email to hcmcinfo@state.gov Warning: Your message to this address may not be read for several days. Please send urgent messages to the consulate by fax (84-8) 824 5571 or telephone (84-8) 822 9433. This site is produced and maintained by the U.S. Consulate General in Ho Chi Minh City. Links to other Internet sites should not be construed as an endorsement of the views contained therein. Last Modified 05/07/2004 20:01:43



-- lu cho" thui (vietnamcongsans@yahoo.com), May 07, 2004

Answers

Response to TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN

Hiến pháp không quy định việc cưỡng bức lưu vong, và Chính phủ đã không sử dụng biện pháp này.

e. Không được xét xử công khai bình đẳng

Hiến pháp quy định vai trò độc lập của thẩm phán và hội thẩm viên; tuy nhiên, trong thực tế thì Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát chặt chẽ tòa án ở các cấp, lựa chọn thẩm phán với tiêu chuẩn tối thiểu là phải có phẩm chất chính trị. Các biện pháp tự bảo vệ một cách hợp hiến còn thiếu trầm trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam có ảnh hưởng lớn đến các vụ án điểm và những vụ án có nội dung chống đối hoặc gây thiệt hại cho Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc Nhà nước. Trong năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam và các quan chức Chính phủ đã có xu hướng gây ảnh hưởng đến quyết định của tòa án bằng cách nói thẳng ý muốn của họ với các hội thẩm viên và thẩm phán xét xử vụ án. Quốc hội bỏ phiếu cho những ứng cử viên do Chủ tịch nước giới thiệu để bầu Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Quốc hội cũng quản lý ngân sách của ngành tư pháp bao gồm tiền lương của thẩm phán giống như quản lý ngân sách và tiền lương của toàn bộ các cơ quan trong Chính phủ. Chính quyền cấp tỉnh và huyện cấp phát tiền lương của thẩm phán theo từng cấp giống như với các công chức khác. Chủ tịch nước chỉ định tất cả các thẩm phán khác trừ Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Quyền này được qui định trong Hiến pháp. Tháng 9/2002, Chính phủ chuyển giao các tòa án địa phương từ Bộ Tư pháp cho Tòa án Nhân dân Tối cao (TANDTC) quản lý trong một nỗ lực nhằm tăng cường sự độc lập của ngành tư pháp. Không có bằng chứng nào cho thấy sự thay đổi này có bất cứ tác động nào đến sự độc lập của các tòa án.

Cơ chế bổ nhiệm thẩm phán và hội thẩm viên còn phản ánh sự thiếu độc lập trong ngành tư pháp. Hội đồng Xét xử Tòa Sơ thẩm ở cấp huyện và tỉnh bao gồm các thẩm phán và hội thẩm viên, nhưng tòa phúc thẩm cấp tỉnh và TANDTC thì chỉ bao gồm các thẩm phán. Hội đồng Nhân dân chỉ định hội thẩm viên cấp huyện và cấp tỉnh. Hội thẩm viên phải có "phẩm chất đạo đức cao" còn không cần phải được đào tạo sâu về pháp lý. Hội đồng Nhân dân huyện và tỉnh chỉ định hội thẩm viên cấp dưới. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải phê chuẩn các ứng cử viên vào vị trí hội thẩm viên TANDTC. Chủ tịch TANDTC chỉ định Chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh và huyện với nhiệm kỳ năm năm. Chủ tịch TANDTC còn chỉ định các thẩm phán TANDTC trong số các ứng cử viên do một hội đồng tuyển chọn tư pháp phê chuẩn dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tòa án còn tăng lên vì Hội đồng Nhân dân chỉ định hội thẩm viên và vì thẩm phán có nhiệm kỳ hạn chế và phải chịu sự theo dõi kiểm tra.

Hệ thống tư pháp bao gồm TANDTC, Tòa án Nhân dân cấp huyện và tỉnh, tòa án quân sự, tòa án hành chính, kinh tế và lao động, và các tòa án khác theo luật định. Mỗi quận huyện trong cả nước đều có một tòa án nhân dân làm nhiệm vụ xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự và hình sự. Mỗi tỉnh có một Tòa án Nhân dân cấp tỉnh làm nhiệm vụ xử phúc thẩm các vụ án do tòa án huyện trình lên cũng như xử sơ thẩm các vụ án khác. TANDTC là tòa án cấp cao nhất xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm. TANDTC chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Tòa án hành chính giải quyết các khiếu kiện của công dân về việc lạm dụng hoặc tham nhũng của các quan chức.

Tòa án quân sự có cùng nguyên tắc hoạt động như các tòa án khác nhưng do Bộ Quốc phòng cấp ngân sách hoạt động. Các thẩm phán và hội thẩm là người của quân đội do TANDTC và Bộ Quốc phòng cùng chọn lựa nhưng do TANDTC giám sát hoạt động. Bộ Quốc phòng cử đại diện tham gia hội đồng tuyển chọn tư pháp và chánh án tòa án quân sự trung ương là Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Một luật của năm 2002 quy định các tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự liên quan đến các pháp nhân của quân đội bao gồm cả các doanh nghiệp quân đội. Quân đội có quyền chọn sử dụng tòa hành chính, kinh tế hoặc lao động để xử các vụ án dân sự.

Bản thân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không có tư cách giải quyết các vấn đề pháp lý. Ngoài ra, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ còn thành lập các ủy ban đặc biệt để giúp giải quyết các tranh chấp ở địa phương.

Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao truy tố tội danh của người bị buộc tội và cử công tố viên tham gia phiên tòa. Một hội đồng xét xử, bao gồm một thẩm phán và một hoặc nhiều hội thẩm viên, sẽ xác định việc bị cáo vô tội hay có tội và thông qua bản án. Mặc dù Hiến pháp khẳng định rằng các công dân được coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh là phạm tội, nhưng một chuyên gia pháp lý nước ngoài đã phân tích hệ thống tòa án trong năm 2000 và thấy rằng hơn 95% những người bị buộc tội đều bị kết tội. Một số luật sư phàn nàn rằng các thẩm phán nói chung đều có thiên kiến theo hướng có tội.

Các luật sư và thẩm phán được đào tạo còn thiếu và không có hội luật sư độc lập. Ở cấp Tòa án Tối cao, năm 2002 còn thiếu 20% thẩm phán đủ năng lực. Theo một quan chức Liên Hợp Quốc, số thẩm phán ở tòa án cấp tỉnh cần tăng thêm 30% đến 40%. Tiền lương thấp đã cản trở sự phát triển nghề nghiệp của thẩm phán được đào tạo. Một số ít thẩm phán đã qua đào tạo pháp lý chính qui thì lại thường học ở các nước có hệ thống pháp lý xã hội chủ nghĩa. Các thẩm phán trẻ được đào tạo lại ít có ảnh hưởng trong hệ thống tư pháp này.

Chính phủ đã thực hiện các chương trình đào tạo để giải quyết vấn đề thiếu thẩm phán và các quan chức tòa án khác. Một số chính phủ nước ngoài và Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đã hỗ trợ để tăng cường xây dựng pháp quyền và một hệ thống tư pháp hiệu quả hơn, tuy nhiên, việc thiếu cởi mở trong qui trình xét xử hình sự và hệ thống tư pháp tiếp tục thiếu tính độc lập đã làm giảm hiệu quả của những nỗ lực này.

Mặc dù Hiến pháp qui định quyền tư vấn pháp luật cho những người bị buộc tội hình sự, việc thiếu luật sư làm cho qui định này không thể thực thi. Với tình hình chỉ có một vài luật sư đáp ứng tiêu chuẩn, công tố viên thường làm cả hai nhiệm vụ truy tố và bào chữa, dẫn đến việc tư vấn pháp lý thường không giúp ích nhiều cho bị cáo. Nhất quán với hệ thống chính trị theo chủ nghĩa Mác-Lênin, Chính phủ yêu cầu Đoàn Luật sư phải là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ở cấp tỉnh, Đoàn Luật sư phụ thuộc vào các đại diện của Chính phủ Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Nhân dân tỉnh và Ủy ban Nhân dân tỉnh.

Các phiên tòa xét xử nói chung được tổ chức công khai; tuy nhiên, cơ quan tòa án đôi khi xử kín hoặc hạn chế người tham gia trong những vụ án nhạy cảm. Bị cáo có quyền xuất hiện trong phiên tòa xét xử và có luật sư bào chữa. Bị cáo hoặc luật sư bào chữa có quyền kiểm tra chéo với nhân chứng, tuy nhiên, có những báo cáo tin cậy cho biết bị cáo không được phép biết bằng chứng của Chính phủ trước khi xét xử, kiểm tra chéo với nhân chứng hoặc phản đối các lời khai. Các luật sư cho biết họ thường có ít thời gian trước khi xét xử để kiểm tra bằng chứng sẽ được đưa ra buộc tội thân chủ của họ. Những người bị kết tội có quyền kháng án. Tòa án không công bố nội dung các phiên tòa.

Chính phủ tiếp tục bỏ tù những người bày tỏ một cách hòa bình những quan điểm tôn giáo và chính trị có tính đối lập. Không thể ước tính số lượng chính trị phạm vì Chính phủ thường không công khai những vụ bắt bớ, bác bỏ khái niệm tù nhân chính trị và tôn giáo, và đôi khi tiến hành xử và tuyên án kín. Được biết có 14 tù nhân bị giam giữ vì các lý do chính trị và 21 tù nhân bị giam giữ vì các lý do tôn giáo. Các nguồn khác ước tính con số đó có thể còn cao hơn. Trong số những người bị cho là đang bị tạm giam hoặc đang ở trong tù có bác sĩ Nguyễn Đan Quế, đại tá Phạm Quế Dương, Trần Văn Khuê, Trần Dũng Tiến, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Đình Huy (có tin ông này đang bị bệnh Parkinson), Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, nhà báo Phạm Thái, và những người hoạt động tôn giáo như cha Nguyễn Văn Lý, Ngô Văn Thông, Phạm Minh Trí, Lê Minh Triết, Nguyễn Châu Lang, Trương Văn Đức, Bùi Văn Huệ, Đinh Trỗi, Phạm Văn Tường, Hồ Văn Trọng, Ha Hai, Thích Thiện Minh, Nguyễn Thiện Phụng, Nguyễn Văn Lia, Lý A Hu và Lý A Cho.

Chính phủ đã ân xá cho ít nhất 750 tù nhân trong năm qua, nhưng được biết là không có tù nhân chính trị hay tôn giáo nào trong số đó, tuy nhiên Chính phủ đã giảm án cho ít nhất là 4 tù nhân chính trị trong năm qua.

Chính phủ cho rằng họ không giam giữ bất kỳ tù nhân chính trị hay tôn giáo nào và những người được cho là tù nhân chính trị đã bị kết tội vi phạm luật an ninh quốc gia hoặc các luật hình sự chung khác. Tháng 2, trước Tết Âm lịch, chính quyền địa phương đã trả tự do hoặc giảm án cho 246 tù nhân ở các nhà tù Chí Hòa và Bo La của Thành phố Hồ Chí Minh vì đã cải tạo tốt. Nhân ngày Quốc khánh 2/9, chính quyền địa phương đã ân xá thêm 544 tù nhân ở Hà Nội, Hải Phòng, và Thành phố Hồ Chí Minh, trả tự do cho 120 người trước thời hạn và giảm án cho số còn lại từ hai tháng đến hai mươi tháng. Bộ Ngoại giao cho biết không ai trong số những người được ân xá nằm trong danh sách những người được quan tâm của các chính phủ nước ngoài và các tổ chức phi chính phủ (NGO).

Chính phủ không cho phép các tổ chức nhân đạo tiếp xúc với tù nhân chính trị.



-- lu cho" thui (vietnamcongsans@yahoo.com), May 07, 2004.


Response to TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN

. Can thiệp tùy tiện vào sinh hoạt riêng tư, gia đình, chỗ ở hoặc thư tín

Hiến pháp qui định quyền riêng tư về chỗ ở và thư từ; tuy nhiên, Chính phủ rất hạn chế quyền này. Đăng ký hộ khẩu và hệ thống dân phòng theo cụm dân cư hình thành nhằm theo dõi mọi công dân nhưng mức độ và cường độ lại giảm hơn so với trước đây và thường không gây ảnh hưởng đến phần lớn người dân. Chính quyền nói chung tập trung vào những đối tượng bị coi là có quan điểm chỉ trích Chính phủ hoặc những người bị nghi ngờ là dính líu đến các hoạt động chính trị hoặc tôn giáo bị cấm. Công dân được yêu cầu đăng ký với cảnh sát khi họ rời nơi cư trú, ở qua đêm tại một địa điểm khác, hoặc khi họ thay đổi nơi ở mặc dù việc này thường bị vi phạm, tuy nhiên, Chính phủ dường như đã tăng cường thực thi những yêu cầu này ở một số huyện ở Tây Nguyên và các tỉnh Tây Bắc. Ngày 18/8, cảnh sát đã áp dụng quy định này để đi vào một nhà thờ Tin lành tại gia bất hợp pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh, dẫn đến một vụ cãi lộn và kết quả là 2 người đứng đầu nhà thờ bị giam giữ trong một thời gian ngắn. Phần lớn người dân muốn đi lại trong nước để tìm việc làm hoặc đi thăm gia đình và bạn bè đều có thể làm mà không bị theo dõi, và phần lớn các gia đình vì muốn tìm việc làm mà phải rời đến những nơi khác đều không cần xin phép chính phủ (xem Phần 2.d). Vẫn còn có tin rằng những gia đình "di cư tự phát" không thể đăng ký hộ khẩu hoặc lấy giấy phép cư trú ở những nơi ở mới, gặp nhiều vấn đề pháp lý và hành chính. Ở khu vực đô thị, phần lớn người dân vẫn tự do tiếp xúc và làm việc với người nước ngoài. Về lý thuyết, Chính phủ yêu cầu những công dân làm việc cho các tổ chức nước ngoài phải được thẩm tra và tuyển dụng thông qua một công ty dịch vụ của nhà nước. Luật điều chỉnh các doanh nghiệp nước ngoài thì rộng rãi hơn. Trên thực tế, nhiều tổ chức nước ngoài, kể cả các phái đoàn ngoại giao, và doanh nghiệp nước ngoài tự thuê người cho họ và "đăng ký" những người này với công ty dịch vụ giới thiệu việc làm.

Về lý thuyết, việc dùng vũ lực để đột nhập vào nhà riêng là không được phép nếu không có lệnh của Viện Kiểm sát, tuy nhiên, trên thực tế, lực lượng an ninh hiếm khi tuân thủ yêu cầu này mà thường "yêu cầu" cho phép họ vào nhà với ngầm ý đe dọa là cần phải hợp tác. Trong một số trường hợp, người dân đã từ chối hợp tác trước những "yêu cầu" như vậy. Ở khu vực đô thị, lực lượng an ninh nói chung thường bỏ đi khi không nhận được sự hợp tác. Trong một trường hợp xảy ra đầu tháng 10, các sỹ quan an ninh đi vào một ngôi nhà ở tỉnh Gia Lai mà không được phép, tại đó, một nhà ngoại giao nước ngoài đang tiến hành phỏng vấn lãnh sự. Các sỹ quan an ninh đã quấy rối những người sống trong ngôi nhà và sau đó ngăn không cho quan chức lãnh sự nêu trên vào các ngôi nhà ở tỉnh Đắc Lắc.

Chính phủ đã mở và kiểm duyệt thư từ của các đối tượng mục tiêu, tịch thu bưu kiện và thư từ, và theo dõi các cuộc nói chuyện điện thoại và thông tin truyền qua fax. Chính phủ cắt đường dây điện thoại của một số đối tượng nhất định và liên tục làm ngắt dịch vụ điện thoại di động của họ. Việc làm này xem ra lẻ tẻ và không áp dụng thống nhất. Chính phủ theo dõi thư điện tử, tìm mật khẩu nhạy cảm và quản lý nội dung Internet (xem Phần 2.a).

Chính phủ không ép buộc tái định cư; tuy nhiên, nguồn tin đáng tin cậy cho biết Chính phủ buộc những tín đồ Tin lành người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Bắc và Tây Nguyên phải rời khỏi nơi ở mà không chuẩn bị nơi ở mới cho họ. Chính phủ còn tái định cư cho một số người để chuẩn bị xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở. Theo luật, công dân được bồi thường trong những trường hợp tương tự nhưng khiếu nại xảy ra ở khắp nơi, kể cả từ chính Quốc hội, cho rằng việc bồi thường không thỏa đáng hoặc bị chậm. Chính phủ đã thừa nhận đã có các vấn đề trong các chương trình tái định cư trước đây.

Chính phủ thực hiện tổng động viên toàn diện đối với nam giới. Có trường hợp được miễn do không đủ sức khỏe, và sinh viên nói chung được hoãn cũng giống như những trường hợp đặc biệt khác. Những người được hoãn rất hiếm khi bị gọi đi làm nghĩa vụ quân sự. Không biết có sự khác nhau về tỷ lệ động viên giữa các dân tộc thiểu số hay không.

Tư cách hội viên của công dân trong các tổ chức quần chúng vẫn mang tính tự nguyện nhưng thường quan trọng đối với sự phát triển nghề nghiệp. Tư cách Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn là một sự hỗ trợ đối với sự thăng tiến trong các cơ quan của Chính phủ và doanh nghiệp nhà nước và có tính chất quyết định đối với việc đề bạt lên các vị trí cao hơn trong Chính phủ. Đồng thời, sự đa dạng hóa thành phần kinh tế khiến cho việc là Đảng viên trong các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo và trong Đảng Cộng sản Việt Nam giảm bớt ý nghĩa về vấn đề thu nhập và phúc lợi xã hội. Các đảng phái chính trị đối lập không được phép hoạt động.

Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình, khuyến khích các gia đình có không quá hai con; chính sách này nhấn mạnh yếu tố cổ vũ chứ không ép buộc. Về nguyên tắc, Chính phủ có thể xét không đề bạt hoặc nâng lương cho những công chức có nhiều hơn hai con. Các quy định sửa đổi bổ sung về kế hoạch hóa gia đình được thông qua trong năm không cho phép phạt; các quan chức khẳng định các hình thức phạt chưa bao giờ là một phần chính thức của chính sách kế hoạch hóa gia đình.

Năm 2001, thân nhân của một số người có quan điểm chính trị khác với Chính phủ đã mất việc làm tại các doanh nghiệp nhà nước, tuy nhiên, phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, đều tìm được công việc tương đương hoặc tốt hơn tại các công ty tư nhân. Không có thông tin gì về những trường hợp tương tự có xảy ra trong năm 2002 hoặc 2003 hay không.

Chính phủ can thiệp vào việc phân phối các sách báo nước ngoài và tiếp cận truyền hình qua vệ tinh (xem Phần 2.a).

For comments and inquiries, please email to uscongenhcmc@pd.state.gov For Visa Issues, please email to hcmcinfo@state.gov Warning: Your message to this address may not be read for several days. Please send urgent messages to the consulate by fax (84-8) 824 5571 or telephone (84-8) 822 9433. This site is produced and maintained by the U.S. Consulate General in Ho Chi Minh City. Links to other Internet sites should not be construed as an endorsement of the views contained therein. Last Modified 05/07/2004 20:01:43



-- lu cho" thui (vietnamcongsans@yahoo.com), May 07, 2004.


Moderation questions? read the FAQ