nghị quyết 36 - xin dong bao dung tin lu nguy tac tuyen truyen-

greenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread

Việt Hong - Moscow

Bộ Chnh trị VN vừa ra một nghị quyết 36 đối với người Việt nam ở nước ngoi. Tất nhin đy l nghị quyết dnh cho cc cấp chnh quyền VN chứ khng phải dnh cho chng ta (những người đang sống ở nước ngoi, tạm gọi l Việt kiều), v đ từ lu chng ta khng cn chịu sự quản l hnh chnh của chế độ VN nữa rồi.

Tuy vậy Việt kiều l trung điểm của nghị quyết, cho nn ti c đi lời muốn ni về nghị quyết ny, c g đng hay sai xin độc giả xa gần gp thm kiến.

Việt kiều những người đang sinh sống ở nước ngoi, tuy rằng mang (hoặc chưa mang) Hộ chiếu nước ngoi, th vẫn l người Việt nam 100 %. Với họ VN mi mi l qu hương yu dấu. Tất cả những việc họ đ lm, đang lm v sẽ lm, ngoi việc để lo cho gia đnh cn lại l đều v VN, Qu hương của Tất cả chng ta. Tnh cảm của B con đối với đồng bo ruột thịt trong nước vẫn sắt son, mặn nồng, chung thuỷ... khng bao giờ thay đổi. Tha thiết, nguyện vọng lớn nhất của b con Việt kiều đ l lm sao cho B con mnh trong nước cũng được sung sướng, hạnh phc, tự do như chnh họ.

Nơi l tưởng nhất, hạnh phc nhất để sinh sống đ chnh l Qu hương VN! Khng một Việt kiều no muốn rời bỏ Tổ quốc để ra đi! Tha phương cầu thực! Đất khch qu người! Vậy tại sao gần 3 triệu người VN chng ta lại chọn giải php đ? Đ c bao giờ ĐCSVN tự chất vấn lương tm, tự đặt cho mnh cu hỏi đ chưa? Nếu chưa th hy tổ chức một hội thảo cho r rng ci đ, rồi hy ra nghị quyết ny, nghị quyết nọ cho Việt kiều!

Sau năm 1975 ln sng vượt bin ra nước ngoi bng ln một cch mạnh mẽ, hồi đ ti cn nhỏ, thấy bo ch viết về nhiều gia đnh bỏ lại tất cả: nh cửa, xe cộ... sau một đm khng cn thấy họ nữa. Mỗi một xuất đi phải đng vi cy vng v.v. ti thật sự khng hiểu, trong khi nh ti khng c lấy một chỉ vng! Th tại sao họ lại vứt tất cả để ra đi? Thậm ch cn chịu nhiều may rủi, nguy hiểm nữa chứ! Hồi đ ti chưa hiểu được, khi lớn ln như by giờ c cht hiểu biết ti mới tự trả lời được cu hỏi đ. Giờ th ti đ biết rằng, c những thứ lớn hơn Tiền bạc, nh cửa, tiện nghi... đ l: TỰ DO. Tự do v Dn chủ l một chất gy nghiện mạnh hơn bất cứ một thứ gy nghiện no khc, khi n đ ngấm vo người rồi th khng thể no chịu được, nếu như thiếu n (như lời Ch Bi Tn). V Tự do đ m gần 3 triệu người Việt đ đau lng bỏ Tổ quốc để ra đi. Ra đi trong chua xt v cay đắng. họ nghẹn ngo khi phải dứt o ra đi, bỏ lại sau lưng tất cả.

Qu hương vẫn l nỗi khắc khoải, canh cnh trong lng họ. Nhưng với chnh quyền, kẻ đẩy họ vo con đường đ, khi quyết định ra đi th mọi mối quan hệ với chnh quyền đ cắt đứt. Sự bất ti, km cỏi trong việc điều hnh Đất nước, sự độc c trong việc đối xử với đồng bo ruột thịt đ đ lm cho mối lin hệ giữa Nh nước v Cng dn chấm hết. Chnh CS cũng hiểu điều đ hơn ai hết, nn họ khng lm g để ngăn chặn ln sng đ, ngược lại cn tạo điều kiện cho người Dn ra đi để lấy tiền lệ ph.

Giờ đy, sau 30 năm ở nước ngoi, với sức sống mnh liệt, một ch vươn ln lm lại cuộc đời,Việt kiều đ tạo được cho mnh một vị tr, một chỗ đứng kh vững chắc v xứng đng trong lng Đất nước đ cưu mang họ. Tiếng ni của họ, tiềm năng về kinh tế của họ ngy cng được khẳng định v được Thế giới lắng nghe.

Một điều cũng rất đng ni l cng với những thnh cng rực rỡ của Việt kiều ở nước sở tại, họ cũng rất quan tm đến đời sống, số phận của đồng bo mnh ở trong nước. họ đ khng ngừng đấu tranh để bảo vệ Chn l, bảo vệ những tiếng ni của lương tri, những số phận bị vi dập dưới bn đen chỉ v một tội danh duy nhất: Đấu tranh nhằm mang lại hạnh phc cho Nhn dn, cho Đồng loại mnh.

họ (Việt kiều) cũng đ gửi tiền về cho Thn nhn trong nước, gp phần lm cho cuộc sống của người thn được tốt hơn (số tiền gần 3 tỉ USD gửi về trong năm 2003 l một minh chứng cho tnh cảm của Việt kiều dnh cho đồng bo, người thn mnh).

Nn nhớ rằng đy l tnh cảm của Việt kiều dnh cho người thn của mnh, cho đồng bo mnh chứ khng phải cho Chnh quyền! Đy l một việc lm chnh đng v l một tro lưu khng thể đảo ngược được.

Thi độ của Việt kiều đối với chnh quyền CS ra sao th chắc chng ta đều biết, khng hề c cht cảm tnh no. Khng những v những bất cng v ngang tri m chế độ đ gy ra cho họ m cn do thi độ ngoan cố, l trước số phận cơ cực của Đồng bo trong nước cũng như gi trị của Đất quốc VN ngy cng trở nn bi đt trn trường Quốc tế.

Thử hỏi đ c bao giờ người VN bị coi thường v rẻ rng như by giờ chưa? Hnh như trong nghị quyết ny chnh quyền chỉ quan tm đến người Việt ở cc nước Tư bản pht triển, nơi Cộng đồng người Việt đ an cư, lạc nghiệp thi th phải? cn biết bao nhiu người Việt đang cn sống bơ vơ, vất vưởng nơi đất khch qu người th chnh quyền c biết v c thm để đến khng? Hay chỉ lo ve vn mấy ng Việt kiều giu c ở Phương Ty?

Người Việt đang bị bn lm con ở, n lệ tnh dục cho Đi Loan, sang Cambốt. Bao nhiu lao động đang bị bỏ rơi ở Malaisya, khng nh cửa, khng c ăn, phải bắt trộm mo, ch của người Dn địa phương để sống qua ngy, chnh phủ CS c biết hay khng? Đừng ni ở đu xa, người lao động ở Lin x cũ cũng vậy, họ đi lm để trả nợ cho nh nước thế m thn phận họ ra sao chnh quyền c biết khng? hay chỉ biết bắt cc, bỏ đĩa. Đem con bỏ chợ m thi? Nhiều người ốm đau, khng cn khả năng kiếm sống muốn trở về VN th đều phải trng chờ vo lng hảo tm v sự đng gp của bạn b Đồng Hương, Sứ Qun c biết khng? Biết cả đấy! nhưng khng lm g cả. Mấy năm gần đy hng chục Việt kiều ở Cambốt bị bọn cực đoan giết hại, nh nước CS c biết khng v c lm g để bảo vệ họ hay khng? Hay chỉ biết lờ tịt đi?

Thế m tự nhin lại sốt sắng, quan tm đến b con Việt kiều thế? Đu l l do chnh? Nghị quyết 36 nhận định ; Cộng đồng người VN ở nước ngoi c tiềm lực kinh tế nhất định, c mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoi v quốc tế, c khả năng tm kiếm đối tc v lm cầu nối với cc doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều tr thức c trnh độ học vấn v chuyn mn cao; một số người giữ vị tr quan trọng trong cc cơ quan, cơ sở nghin cứu, đo tạo, cc cng ty v tổ chức quốc tế, c khả năng tạo dựng quan hệ với cc cơ sở kinh tế, khoa học ở nước sở tại.



-- que huong (vietnambatdiet@com.vn), April 22, 2004

Answers

Response to nghị quyết 36 - xin dong bao dung tin lu nguy tac tuyen truyen-

Như vậy ĐCSVN đ nhn nhận được khả năng v sức mạnh của cộng đồng người Việt ở nước ngoi. họ cũng thừa hiểu rằng khng thể no pht triển v hội nhập đầy đủ v nhanh chng với nền Kinh tế Thế giới nếu khng c sự Hậu thuẫn của Cộng đồng người Việt ở Hải ngoại.

Về l thuyết l như vậy, nhưng trong thực tế th chnh quyền CS thường ni một đường, lm một nẻo. Tiền hậu bất nhất, nn trong dn gian mới c cu đừng nghe CS ni m hy nhn CS lm (*).

-- Vem dang choi canh bac bip (Vemnoncoi@choicanhbacbip.com.vn), April 22, 2004.


Response to nghị quyết 36 - xin dong bao dung tin lu nguy tac tuyen truyen-

HAHA HA bip cung van la bip ...ai ma khong biet ?...cung' khong duoc thi lai mem ,,,,,,Co cai dieu la an xong roi lai quet mo? nhu 1 lu cho' ,the thoi ,,Cong dong Quoc te' ma ho con noi lao' ,,,Lien Hiep Quoc ma ho con khong coi ra gi thi noi gi la CD nguoi viet hai ngoai ? ...Chi ra la con co* nin bo*. the thoi, Nhung chuyen dong troi ma CSVN con noi lao ca? CD Quoc te' ...Dau phai la moi nguoi biet dau ..chi qua la khong dung thoi diem de ma Quoc te' noi chuyen ,,,

-- congsan ngu dot (vietnam_congsan@yahoo.com), April 22, 2004.

Response to nghị quyết 36 - xin dong bao dung tin lu nguy tac tuyen truyen-

We live for the future.

From Ambassador Raymond F. Burghardt

http://vietnam.usembassy.gov/wwwhamb040304.html

March 4, 2004

U.S.-VIETNAM RELATIONS: 30 YEARS AFTER THE WAR, 10 YEARS AFTER NORMALIZATION

Raymond F. Burghardt, Ambassador Asia Society, Hong Kong Center

March 4, 2004

Yesterday afternoon I walked over to the Hong Kong Art Museum and looked at the Asia Society?s excellent exhibition of "Images from the War." The exhibition reminded me that today in Vietnam, nearly 30 years after the war, the past still permeates the present. The memory of the war certainly remains among the half of the population that endured it. But, I also was struck by how much those pictures captured a past that most people in Vietnam do not dwell on very much. The Vietnamese people and leaders live in the present and look to the future. They deserve a great deal of admiration for their ability to put the past behind them.

I was in Vietnam during the war, not as a soldier, but as a diplomat. I was in Saigon from 1970 to 1973. Now that I am back in Vietnam 30 years later, I am conscious of that history every day. But like the Vietnamese people and their leaders, I keep my focus on the present and the future.

Talking about Vietnam while in Hong Kong also evokes memories for me of the tough period in Vietnam?s history that immediately followed the war. In 1979, when war broke out between China and Vietnam, I was working at our Consulate here in Hong Kong. Afterwards, thousands of boat people arrived from Vietnam and I spent the better part of a year interviewing them to learn why they had come to Hong Kong or Macau. I also worked with NGOs like Catholic Relief Service to feed and clothe the refugees in the camps. During that period, we came up with what became the Orderly Departure Program as a way to stop the flow of refugees. The ODP was modeled on and named after a program created by the Hong Kong Government to bring ethnic Chinese from Haiphong and Cholon, Saigon?s Chinese quarter, to join family members in this city.

In the last ten years, a new chapter has opened between the United States and Vietnam. The U.S.-Vietnam relationship is still young. President Clinton only lifted the embargo in 1994. We established a liaison office in January 1995, and we normalized relations in July 1995. We opened our consulate in Ho Chi Minh City in 1997. Our first Ambassador came in 1997 and I am only the second Ambassador to a unified Vietnam. Our presence in Vietnam has grown rapidly, to a medium-sized embassy in Hanoi and consulate in Ho Chi Minh City. And, we will probably grow a little more in the future.

Our relationship began by building trust on issues left over from the war, such as the accounting for MIAs, reuniting families of refugees, and humanitarian programs. But then, after normalization, we sought to widen the relationship with strengthened commercial and economic ties that benefit both countries. The fruits of that thinking, the Bilateral Trade Agreement (BTA), took four years to negotiate and finally took effect on December 10, 2001, five days before my arrival.

During the past year, we have seen further remarkable progress on a widening range of bilateral issues. A year ago, the focus was almost exclusively on the commercial benefits of our bilateral relations, while there was little progress on other aspects of a normal relationship. In mid-year, Vietnam?s leadership decided to give greater priority and attention to relations with the United States. The result has been easier access to the leaders for Mission officers and visitors from Washington and progress on many fronts.

Last year was a very good year for U.S. Vietnam relations. In the fall we had an important series of high-level Vietnamese government visitors to the U.S. culminating with Deputy Prime Minister Vu Khoan in December. These included the Ministers of Foreign Affairs, Trade, and Planning and Investment. The November visit to Washington by Defense Minister Pham Van Tra represented the normalization of our military ties and was followed a week later by the first U.S. Navy ship visit to Vietnam in thirty years. My wife and I traveled up the Saigon River on that ship and experienced the excitement of the American sailors at what they knew was an historic journey as well as the excitement of the crowds of Vietnamese who greeted our arrival.

Breakthroughs in 2003 enabled us to conclude several agreements that had been underway for years without apparent progress. These were the civil aviation agreement that will permit air service on U.S. or Vietnamese carriers between Vietnam and the U.S. That could include between Hong Kong and Ho Chi Minh City within the next year. Our new counter narcotics agreement will enable the U.S. and Vietnam to work together to stem the flow of illegal drugs through Vietnam, as well as carry out other law enforcement and counter-terrorism training. And our textile agreement established parameters for the import of textiles to the U.S. We now anticipate more dialogue and cooperation with Vietnam in dealing with regional and transnational issues such as fighting against narcotics, trafficking in persons, and terrorism.

In the midst of this progress, we do still have differences in our viewpoints on some important areas including human rights and religious freedom. The Communist Party retains a monopoly on political power in Vietnam. Advocacy of a multi-party system is forbidden. Even basic freedoms of speech, assembly, and religion guaranteed in Vietnam?s own Constitution are sometimes superseded in the interest of what the Government calls "national solidarity." We've seen several cases over the past year in which people who did nothing more than exchange critical e-mails received heavy prison sentences. We also have raised with the Vietnamese Government our concerns about the harassment of ethnic minority Protestants in the Central and Northwest Highlands. This harassment includes cases of forced renunciation of faith, the closing of house churches, and a very slow process of allowing churches to legally register. The U.S. House of Representatives has now twice passed versions of a Vietnam Human Rights Act that would cap non-humanitarian assistance from the USG at current levels. Although neither bill passed the Senate, Congressional concerns remain strong. Senator Brownback held Foreign Relation Committee Meetings just a little over a week ago which focused on human rights. These human rights issues certainly do affect the pace at which we can develop bilateral relations. But I nonetheless remain confident that we will be able to deal with those issues while further developing our overall relationship. We speak frankly about our disagreements while recognizing that the longer-term trend since the beginning of Vietnam?s economic renovation policy in 1986 has in fact been a dramatic expansion of personal freedoms.

The foreign community in Vietnam, both multilateral agencies and bilateral donors like the U.S., are actively involved in helping Vietnam carry out its economic reforms. The U.S. assistance program in Vietnam predates our formal diplomatic relations. The two largest parts of it today are to counter the spread of HIV/AIDS ? where we are the largest bilateral donor ? and to provide technical assistance in helping Vietnam to implement the BTA and to prepare for accession to the WTO. Our assistance programs promote civil society development, rule of law, advocacy for persons with disabilities and those living with HIV/AIDS, environmental management, and trade reform.

In working with Vietnam to create a more genuine system of rule by law, to train judges and lawyers, and to build new standards of transparency and accountability, we are having a major impact, not only on bringing Vietnam up to the level of international trading norms, but also fundamentally changing, for the better, the relations between the citizens and the State.

As the scope of our relationship with Vietnam broadens, mutual understanding becomes even more critical. Because of the legacy of war and Vietnam?s long period of isolation, understanding can be particularly difficult for both countries. Our cultural and educational exchanges have grown dramatically. We have the largest U.S. Government-funded Fulbright program in the world, training economists, businessmen, public policy experts, English-teachers, and professors in the Social Sciences and Humanities. We now have a new program unique to Vietnam called the Vietnam Educational Foundation, which is focused on scientific training. The combined budgets of the Fulbright Program and the Vietnam Education Foundation total nearly $10 million per year -- more than the U.S. contributes towards higher education in any other country in the world.

In our burgeoning economic relationship, the Bilateral Trade Agreement ? the (BTA) -- is a key foundation and presents enormous opportunities for expanded cooperation. This agreement binds Vietnam to an unprecedented array of reform commitments in its legal and regulatory structure and has become an important catalyst for change. The BTA eliminates non-tariff barriers, cuts tariffs on a number of U.S. exports and gives Vietnam MFN access to the U.S. market. It also provides for effective protection and enforcement of intellectual property rights, opens Vietnam's market to U.S. service providers, and creates fair and transparent rules and regulations for U.S. investors.

Vietnam is lagging behind in some of its BTA commitments and enforcement remains weak, but the country has made progress in opening its markets to many U.S. products, such as aircraft, machinery and cotton. Unfortunately, its market still remains relatively closed to U.S. intellectual property industry products despite some progress in revising legislation related to intellectual property rights.

The BTA has had a significant impact on our bilateral trade, which has grown sharply in the first two years. In 2003, two-way trade soared again by over 100%, reaching an estimated $6 billion. As a result of our tariff reductions, Vietnam?s exports to the US have risen by about 125% each of the first two years, while our exports to Vietnam, boosted by the sale of some Boeing aircraft, have also risen markedly. Vietnam's official figures on U.S. investment in Vietnam have also risen to a current total of just over $1 billion, but this seriously understates the true figure. This data does not include investments by U.S. subsidiaries in Singapore and elsewhere in the region, such as nearly over $800 million by Conoco-Phillips alone.

Our deepening economic, commercial, and assistance relationship with Vietnam promotes civil society, encourages economic reform, draws the country further into the rules-based international trading system, and promotes interests of American workers, consumers, farmers, and business people.

We strongly support Vietnam's decision to adopt WTO provisions as the basis for its trade regime. The Vietnamese government must now demonstrate that it is prepared to undertake the commitments that are necessary to become a WTO member. Vietnam's implementation of a rules-based trading system based on WTO principles of transparency and its continued pursuit of structural economic reforms should accelerate the development of the private sector, enhance the rule of law, and improve the atmosphere for progress in democracy and human rights.

So, let me conclude my comments on the past and the present with a word about the future. Vietnam today is a dynamic, rapidly developing economy, an increasingly popular tourist destination, and an attractive site for foreign investment. I expect that Vietnam will continue its journey towards a more efficient economy with greater individual freedom and that today's children will be better off than their parents. And I hope ? and fully expect -- that U.S.-Vietnam relations will continue to broaden and deepen mutual understanding to the benefit of both of our nations.



-- OnBehalfofTheUSAmbassador Raymond F. Burghardt (Witness@yahoo.com), April 22, 2004.


Response to nghị quyết 36 - xin dong bao dung tin lu nguy tac tuyen truyen-

"Vietnam today is a dynamic, rapidly developing economy, an increasingly popular tourist destination, and an attractive site for foreign investment"

Sir, are you talking about the rapid development of vast number of child prostitutes, crime and drug lords, or cheap labour?

is your brain fucking dead?

-- vc (dumpshit@vc.com), April 22, 2004.


Response to nghị quyết 36 - xin dong bao dung tin lu nguy tac tuyen truyen-

Gentlemen,

Could you tell which countries do not have such vices? All are the old professions, under different forms and situations. There is nothing absolute, but relative.

-- Colonel Hackworth David (Witness@yahoo.com), April 23, 2004.



Response to nghị quyết 36 - xin dong bao dung tin lu nguy tac tuyen truyen-

your english ability is fucking terrible. i’m wondering whether you’re a real mr Hackshit or just a fucking VC red ass shit brain .

-- hakl (vet@org.com), April 23, 2004.

Response to nghị quyết 36 - xin dong bao dung tin lu nguy tac tuyen truyen-

The use of profane language would tell how much you were educated. Calm down. Relax. Take a deep breath. Easy. Now you are a real nice man on earth. People would respect you when you display yourself as a mature creature. Nothing can change you, but yourself, a member of civilised community.

-- TheGioi (witness@berlin.edu.de), April 23, 2004.

Moderation questions? read the FAQ