Những Vấn Ðề Của Ðảng Cộng Sản Việt Nam Trong Năm 2004

greenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread

Những Vấn Ðề Của Ðảng Cộng Sản Việt Nam Trong Năm 2004

Ðoàn Hùng, LMVNTD - (LÊN MẠNG THỨ TƯ 14 THÁNG GIÊNG 2004)

Trong năm 2004, theo dự kiến đảng CSVN sẽ tổ chức đại hội toàn đảng giữa nhiệm kỳ. Ðâu là những vấn đề lớn phải đối phó của đảng CSVN trong năm 2004 ? Vấn đề sắp xếp nhân sự lãnh đạo, với dự kiến Phan Văn Khải có thể ra đi ? vấn đề nên hay không nên đi theo con đường của Trung Quốc trong việc điều chỉnh lại nền tảng ý thức hệ của đảng CSVN ? Vấn đề hội nhập và tham gia và WTO,...

TRước khi đưa ra một vài nhận định về chế độ Cộng sản Việt Nam trong năm 2004, chúng ta cần nhìn lại một vài diễn biến trong năm 2003 để từ đó đưa ra một vài dự phóng về viễn cảnh đổi thay của Hà Nội. Trong năm 2003, có nhiều biến cố xảy ra đối với đảng Cộng sản Việt Nam ; nhưng hai sự kiện sau đây sẽ là nền tảng cho những vấn đề của đảng Cộng sản Việt Nam trong năm 2004.

Sự kiện thứ nhất là vào hai ngày 8 và 9 tháng 10 năm 2003, tại Bắc Kinh - Trung Quốc, đã diễn ra Hội thảo lý luận giữa đảng Cộng sản Việt Nam và đảng Cộng sản Trung Quốc với chủ đề "Chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường - kinh nghiệm của Trung Quốc và kinh nghiệm của Việt Nam". Tại hội thảo, có tất cả 20 bài tham luận được trình bày (Việt Nam có 9 bài, phía Trung Quốc có 11 bài). Ðại diện phái đoàn đảng Cộng sản Việt Nam là Ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương đảng. Ðại diện phía đảng Cộng sản Trung Quốc là Ủy viên bộ chính trị đảng Lưu Vân Sơn, đặc trách về công tác lý luận và tư tưởng của đảng. Ðây không phải là lần đầu tiên hai đảng có những cuộc hội thảo tay đôi nói trên mà nó được diễn ra dưới nhiều đề tài khác nhau và được luân phiên tổ chức ở Hà Nội hay Bắc Kinh, nhưng thường thì diễn ra ở Bắc Kinh. Trong lần hội thảo này, hai phía đã "trao đổi kinh nghiệm" về việc thực thi chính sách mở cửa và áp dụng nền kinh tế thị trường.

Phía Trung Quốc thì trình bày những diễn tiến thực hiện chính sách mở cửa từ năm 1978, bắt đầu cải cách nông thôn, công nghiệp và chính thức áp dụng kinh tế thị trường từ năm 1992. Sau 5 năm áp dụng mô hình kinh tế tư bản, vào năm 1997, đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra lời xác định rằng, Trung Quốc cần ít nhất 100 năm để đạt đến giai đoạn đầu của xã hội chủ nghĩa. Trong mục tiêu đó, nhiệm vụ cơ bản của Trung Quốc là phải đẩy mạnh sản xuất, lấy kinh tế làm trung tâm phát triển. Năm 2002, đảng Cộng sản Trung Quốc đã vạch ra chỉ hướng rằng họ sẽ phải giải phóng và phát triển sức sản xuất của xã hội thì mới có thể tạo những bước nhảy vọt lên thành một cường quốc kinh tế trung bình của thế giới trong vòng 20 năm tới, trước khi tiến lên xã hội chủ nghĩa. Qua cách trình bày của những nhà lý luận Trung Quốc cho thấy là họ đặt mục tiêu tiến đến xã hội chủ nghĩa còn 100 năm nữa, chỉ là một lối nói khéo để "quên con đường vô sản", tha hồ mở cửa theo tư bản để chiêu dụ đầu tư hầu đẩy mạnh sản xuất.

Phía Việt Nam thì trình bày diễn tiến thực hiện đường lối đổi mới toàn diện từ năm 1986 trong sự mò mẫm đầy bất trắc trong bối cảnh khối Cộng sản quốc tế tan rã. Mãi cho đến năm 1991, sau khi nối lại quan hệ bình thuờng với Bắc Kinh, Hà Nội mới đẩy mạnh các cải cách về nông nghiệp, nông thôn theo lối đi của Trung Quốc cách đó một thập niên. Ðến năm 1996, Cộng sản Việt Nam mới chính thức áp dụng kinh tế thị trường, nhưng lại không dám dùng khái niệm kinh tế thị trường mà gọi là nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường, khi đưa ra nhận thức rằng "sản xuất hàng hóa không đối lập với xã hội chủ nghĩa" mà là thành tựu của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng. Mãi đến năm 2001, trong đại hội đảng lần thứ 8, đảng Cộng sản Việt Nam mới chính thức dùng kinh tế thị trường nhưng lại ghép thêm "theo định hướng xã hội chủ nghĩa" để gọi đó là tiến trình cần thiết trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu then chốt của chính sách này vẫn là đẩy mạnh phát triển kinh tế, mà chủ yếu là gia tăng sản xuất. Nhìn vào cách trình bày về con đường cải tổ của đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, tuy cách diễn đạt có khác nhau, nhưng giống nhau ở hai điểm :

- Ðặt mục tiêu tiến lên xã hội chủ nghĩa hay trải qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa rất xa hay mơ hồ để giúp cho nhóm lãnh đạo dễ biện minh cho những chính sách chạy theo tư bản hiện nay.

- Hai đảng đều chú trọng vào việc gia tăng sản xuất, tức chú trọng vào khía cạnh phát triển kinh tế, để theo kịp đà tiến của các quốc gia tân hưng công nghiệp.

Tuy không nói ra, nhưng các bước đi của đảng Cộng sản Việt Nam đã ít nhiều rập khuôn theo đường lối cải tổ của Bắc Kinh từ khoán hộ, khoán sản phẩm trong nông ngiệp, rồi từ công nhận kinh tế đa thành phần tiến sang việc chuyển hướng áp dụng nền kinh tế thị trường, và bây giờ thì đặt chú tâm vào gia tăng sản xuất, tạm gát lại mục tiêu tiến lên xã hội chủ nghĩa. Tuy phía Việt Nam chưa đề cập thẳng về nhu cầu công nhận quyền tư hữu của người dân như Trung Quốc đã chính thức ghi vào hiến pháp và chưa coi thành phần tư sản tư doanh, là một lực lượng đóng góp quan trọng trong nền kinh tế ; nhưng sớm muộn gì Cộng sản Việt Nam cũng sẽ đi theo con đường của Bắc Kinh, với thuyết "tam đại diện" của Giang Trạch Dân để thoát xác từ vô sản chuyên chính sang tư sản độc tài.

Sự kiện thứ hai là đảng Cộng sản Việt Nam chính thức để cho Bộ trưởng quốc phòng Phạm Văn Trà viếng thăm Hoa Kỳ từ ngày 9 đến 12 tháng 11 năm 2003 và sau đó cho Khu Trục Hạm USS Vandegrift ghé bến Sài Gòn từ ngày 19 đến 22 tháng 11. Ðây là hai sự kiện mới nhất trong quan hệ Việt Mỹ kể từ khi hai phía nối lại bang giao từ năm 1995. Nhiều chuyên gia quốc tế đánh giá rằng, tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Á Châu đang càng ngày lớn mạnh, đặc biệt là trong chiến lược chống khủng bố toàn cầu, mà Hà Nội không thể không tạo những quan hệ trên mặt an ninh khu vực để tránh bị cô lập. Thứ hai là Cộng sản Việt Nam muốn tranh thủ Hoa Kỳ hỗ trợ cho việc tham gia vào WTO vào năm 2005. Nhiều chuyên gia quốc tế cũng đánh giá rằng, tuy đưa Phạm Văn Trà đến Mỹ để thảo luận về vấn đề an ninh khu vực, giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam vẫn lo sợ sự mất lòng đối với đàn anh Bắc Kinh, như đã từng xảy ra vào năm 1978 khi Hà Nội đi theo Liên Xô, để nhờ nước này giúp đỡ hầu thực thi chủ trương "tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa". Ðó là cái nhìn của người ngoại quốc theo kiểu phân tích về mối tương quan quyền lực.

Thật ra, Cộng sản Việt Nam đến gần Hoa Kỳ không phải họ muốn tạo khoảng cách hay để giảm bớt sự khống chế của Bắc Kinh. Ða số tầng lớp lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn còn bị chi phối các quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc và họ tin là Trung Quốc đang đi đúng hướng, với những thành công về kinh tế. Ðiều này còn là một nhu cầu sinh tử, giúp cho giới lãnh đạo Hà Nội thuyết phục mọi tầng lớp đảng viên của mình an lòng bám lấy đảng mà sống. Vì thế, Cộng sản Việt Nam chưa có nhu cầu phải rời xa Trung Quốc, ít nhất là 10 năm trước mặt. Nhưng họ không thể tiếp tục dựa vào Bắc Kinh, vì kể từ năm nay, Hoa Kỳ đã vượt lên thành bạn hàng kinh tế quan trọng của Việt Nam, do sự mở cửa thị trường của Hoa Kỳ. Từ một quốc gia ở mức trao đổi kinh tế khiêm nhượng, ngày nay Hoa Kỳ đang là đối tác kinh tế hàng đầu trong khi thứ tự đầu tư của doanh nhân Mỹ tại Việt Nam lại đứng hàng thứ 12 so với các quốc gia khác. Ðây là điều mâu thuẫn nên Cộng sản Việt Nam phải tung chiến dịch tiếp cận nhiều hơn với chính quyền và giới doanh nhân Hoa Kỳ, để tranh thủ đầu tư. Chỉ trong năm 2003 vừa qua, số lượt cán bộ Hà Nội đến thăm hay làm việc tại Hoa Kỳ, cao gấp vài lần so với năm ngoái. Trong khi đó, tìm hiểu qua các phát biểu và những tiết lộ của giới lãnh đạo Hoa Kỳ khi tiếp cận với các cán bộ, người ta thấy là Hoa Kỳ đã chủ động tìm đến Cộng sản Việt Nam, không phải để lôi kéo Hà Nội vào trục chống Bắc Kinh hay chống khủng bố suông, mà là muốn gầy dựng một "mắc xích" có lợi cho Hoa Kỳ, trong việc giải quyết vấn đề Trung Quốc.

Qua hai sự kiện này, chúng ta thấy là trong năm 2004, Cộng sản Việt Nam sẽ phải đối diện một số vấn đề sau đây :

Thứ nhất là nên hay không nên đẩy mạnh hơn vấn đề cải cách kinh tế như Trung Quốc. Ðó là công nhận quyền tư hữu và đưa kinh tế tư doanh lên vị trí chủ đạo nền kinh tế, thay vì là kinh tế quốc doanh như hiện nay. Nếu Hà Nội tích cực đẩy theo hướng này thì sẽ làm cho nền sản xuất gia tăng, kinh tế phát triển thì việc gia nhập WTO vào năm 2005 sẽ dễ dàng hơn. Ngược lại, nếu chỉ loay hoay với tình trạng cải cách hiện nay, trong khuôn khổ của kinh tế quốc doanh, Cộng sản Việt Nam sẽ không khai thác được các lợi thế đang có hiện nay với Hoa Kỳ và nhất là tìm sự hậu thuẫn từ các nước viện trợ như Nhật, Âu Châu để gia nhập WTO.

Thứ hai là nên hay không nên cải tổ nhân sự để làm trẻ trung guồng máy và nhất là đưa những cán bộ trẻ vào trong guồng máy nhà nước như Trung Quốc đã làm để tạo sự năng động bộ máy hành chánh, gây thêm sự hứng thú đầu tư từ nước ngoài, đặc biệt là giới doanh nhân Hoa Kỳ. Trong nhiều năm qua, Cộng sản Vĩệt Nam đã đưa nhiều chuyên viên ra tu nghiệp ở hải ngoại, đặc biệt là rất đông ở Hoa Kỳ ; nhưng những người này về nước chỉ ngồi chơi xơi nước, hoặc giữ những trách vụ không có thẩm quyền lấy các quyết định chiến lược. Không tiến hành nỗ lực này, Cộng sản Việt Nam sẽ khó có thể tạo những thay đổi căn bản về hành chánh để thu hút đầu tư.

Thứ ba là giải quyết các vấn đề tồn đọng của quá khứ do những chính sách khủng bố và đàn áp đối với những khuynh hướng không nằm trong khuôn khổ của đảng Cộng sản Việt Nam. Ðó là những tổ chức tôn giáo và lực lượng quần chúng bị Cộng sản Việt Nam triệt hạ một cách tàn độc, nhưng nay họ bắt đầu trổi dậy đòi phục hoạt cũng như đòi tôn trọng các quyền tự chủ trong khuôn khổ của hiến pháp cộng sản quy định. Nói cách khác, Hà Nội đang phải đối diện về những trường hợp đòi sự phục hoạt của một số tổ chức tôn giáo và văn hóa - xã hội mà tiêu biểu là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Tin Lành, Phật Giáo Hòa Hảo...

Người ta dự kiến là Cộng sản Việt Nam sẽ có một số thay đổi ít nhiều nói trên, trong hội nghị các đại biểu giữa nhiệm kỳ vào mùa hè năm 2004. Ðây là loại đại hội giữa nhiệm kỳ của khóa 9, đang do Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh lãnh đạo. Ðiều thấy rõ là Cộng sản Việt Nam sẽ nói đến vấn đề hội nhập và đẩy mạnh hơn các quan hệ với Hoa Kỳ về mặt mậu dịch và đầu tư. Trong tinh thần đó, Hà Nội chưa có thể đi nhanh như Trung Quốc là xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, nhưng sẽ tích cực cho phép kinh tế tư doanh phát triển nhiều hơn. Từ đó, có thể Hà Nội sẽ thay một số nhân sự già trong bộ máy nhà nước, nhất là vai trò thủ tướng của Phan Văn Khải và người có nhiều tiềm năng để thay thế là đệ nhất phó thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng hoặc Ủy viên Bộ chính trị Phan Diễn. Cả hai đều có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực kinh tế và đối ngoại, nhưng về mặt quyền lực thì Phan Diễn đang ở vị trí mạnh hơn Nguyễn Tấn Dũng.

Tóm lại, trong năm 2004, Cộng sản Việt Nam sẽ phải có những điều chỉnh về mặt quan điểm kinh tế và nhân sự, mới có thể tạo điều kiện khai thác những thuận lợi trong việc tiếp cận với Hoa Kỳ, đồng thời đối phó những khó khăn do việc giảm thuế 700 mặt hàng, vì áp dụng lộ trình thuế AFTA từ tháng 7 năm 2003. Ngoài ra, Cộng sản Việt Nam sẽ bị sức ép nhiều hơn về mặt nhân quyền trong tiến trình đàm phán để tham gia WTO trong năm 2004, do đó mà chúng ta tin tưởng rằng năm 2004 sẽ là năm có nhũng đối đầu gay gắt giữa đảng Cộng sản Việt Nam và các khuynh hướng đối kháng tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại.

Ðoàn Hùng

-- Con Ho Dam Tac - Nong Duc Manh (Con_Ho_Dam_Tac@hn.vnn.vn), February 16, 2004

Answers

Response to Những Vấn Ã�ề Của Ã�ảng Cộng Sản Việt Nam Trong Năm 2004

Năm 1994 số người mắc HIV ở Việt Nam có thể chỉ đếm trên đầu ngón tay nhưng hiện nay năm 2004 chính thức phát hiện là 70 nghìn người và thực tế theo đánh giá của quốc tế là 300 nghìn người mắc, đồng hành theo đó tệ nạn xã hội còn tăng nhanh hơn nữa nhất là mại dâm, ma tuý, cờ bạc,... sự tăng trưởng của các tệ nạn tính trung bình là 3000%/năm, cứ thế năm sau cao hơn nhiều năm trước.

Tỷ lệ người tái mù chữ tăng cao ở các vùng nông thôn, học sinh bỏ học vì không đủ tiền đóng nhiều loại phí, y tế xuống cấp luôn trong tình trạng quá tải mặc dù được quốc tế viện trợ nhân đạo liên tục, so với GDP bình quân đầu người thì học sinh và bệnh nhân Việt Nam vẫn phải đóng phí cao nhất thế giới.

Hạ tầng giao thông xuống cấp trầm trọng mặc dù liên tục được quốc tế cho vay để xây dựng nên số người chết vì tai nạn trung bình 40 nghìn người/năm bằng số người chết vì tai nạn giao thông của cả nước Mỹ/năm. Kinh tế nhập siêu liên tục, GDP bình quân đầu người thấp nhưng chi phí đời sống phương tiện đi lại đắt đỏ giá nhà ở đô thị quá cao so với thế giới.

Ô nhiễm môi trường, thực phẩm trầm trọng, dịch bệnh tràn làn, tệ nạn tham nhũng đứng top 20 thế giới, lối sống, đạo đức suy đồi, chênh lệch giàu nghèo bất công xã hội, thất nghiệp ngày càng tăng,....

Nguyên nhân tất cả sự việc trên bởi vì đâu? Chiến tranh hay hoà bình, cấm vận hay không cấm vận,... nếu không phải do Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng lãnh đạo thì do ai? liệu GDP tăng 7%/năm có bù đắp được không?

Hãy nhìn lại xem nước Nhật với sự "lãnh đạo" của tư bản sau chiến tranh GDP tăng tới 30%/năm. Cứ cho rằng sự lãnh đạo của Đảng là trí tuệ, nếu vứt bỏ vai trò, công sức của mấy anh "thái thú" Tàu Cộng và Liên Xô thì không biết Đảng tự cường đối phó ra sao với Pháp, Nhật, Tàu Tưởng, Hoa Kỳ.

Tôi công nhận tư bản phải gắn liền với lợi nhuận, dù chiến tranh bất ổn chính trị mà có lợi nhuận thì tư bản vẫn nhảy vào, chẳng phải là nhà tư bản mà vì lợi nhuận ông TGĐ Tcty chè VN còn bị tử nạn tại nơi bất ổn chính trị như Iraq đấy thôi. Tôi có một suy nghĩ thế này, những nhà tư bản đầu tư vào VN thực ra rất ghét Đảng Cộng sản và họ là những người tin tưởng chắc chắn nhất Đảng CS sẽ sụp đổ vì thế nếu không nhanh chân có thể lỡ mất cơ hội khi VN được tự do.

Nhưng các nhà tư bản lại rất thực dụng, họ chỉ xí chỗ thôi chứ thực sự không muốn giúp Đảng lãnh đạo lâu dài vì thế mà họ mới chỉ đặt 1 bàn chân hoặc 1 ngón chân vào VN, đăng ký vốn đầu tư phóng đại lên còn thực hiện thì nhỏ giọt.

Không biết tôi đánh giá cực đoan! hay không, nhưng chỉ có một điều trái khoáy thế này: đi từ cực tả sang cực hữu Đảng Cộng Sản đang xây dựng và phát triển Đảng bằng cách bảo vệ người giàu vì không trải thảm đỏ như thế thì chẳng nhà tư bản nào lại dại dột đầu tư vào VN, trái ngược với tiền thân Đảng trước kia kêu gọi người nghèo xây dựng Đảng ngày nay bằng cách đánh đuổi người giàu!.



-- Kẻ Sỉ Bắc Hà (ke_si_bac_ha@yahoo.com), February 16, 2004.


Response to Những Vấn Ã�ề Của Ã�ảng Cộng Sản Việt Nam Trong Năm 2004

Cai bai cua tay Doan Hung hay bao nhieu thi cai ten nghe phat tom cua thang Nong DM va cai bai binh luan thoi (or crappy follow ups) cua thang cha Kesibacha do (shitty) bay nhieu. Do cung la chong cong nhung tui may xem ra cung co nhung thang cha co dau oc va co nhung thang dau dat tho (clay) mom cho (dog's beak) tai lua (donkey's ears) nhu hai thang chung may? Rang toi nay thuc khuya ma hoc thuoc cai cach trinh bay cua thang cha Doan Hung kia di! DA GIA LAI NGU

-- Dan Viet Tri Cuong (tricuong@hotmail.com), February 17, 2004.

Response to Những Vấn Ã�ề Của Ã�ảng Cộng Sản Việt Nam Trong Năm 2004

SÍT TA LIN TỐ HĨU SÍT TA LIN

Thẳng cu nằm chết Sít Ta Lin

Cộng nô Tố Hĩu chắp tay nhìn

Mần bài thơ lợn kêu ủn ỉn

Thương tiếc quan thầy lấy lòng tin

Tố Hiũ kêu gào Sít Ta Lin

Nâng cu bợ đít, bác đứng nhìn

Để thằng bồi bút thêm bủn xỉn

Cúi lạy quan thầy, thói ăn xin ...

-- (tosu_cs@yahoo.com), February 19, 2004.


Moderation questions? read the FAQ