ĐỒNG BÀO TRONG NƯỚC CẦN BIẾT ĐẾN NHỮNG CÁI MÁY NÓI QUỐC-DOANH NÀYgreenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread |
Từ khi có chế độ cộng sản tại Việt Nam, tĩnh từ kép "quốc doanh" trở nên quen thuộc đối với quần chúng. Mặc dù theo tự điển thì quốc doanh có nghĩa là "do nhà nước kinh doanh", nhưng trong ngôn ngữ hàng ngày của người dân, mỗi khi nói đến quốc doanh thì hầu như có hàm ý sự chê bai, dè bỉu trong đó.... Nếu hàng hoá quốc doanh được xem là loại hàng kém phẩm chất, cửa hàng quốc doanh là cửa hàng chỉ có lỏng chỏng vài ba vật dụng xấu xí, có người bán hàng ngồi sau câu khẩu hiệu "vui lòng khách đến vừa lòng khách đi" nhưng quát nạt khách hàng v.v.... thì đoàn thể hay người ngợm quốc doanh không những chỉ mang đặc tính kém phẩm chất như vừa kể mà còn không thể hiện được thiên chức, thậm chí còn là giả mạo. Chẳng hạn như "trí thức quốc doanh", "sư, cha quốc doanh", "phật giáo quốc doanh" v.v.... Do đó, nếu quần chúng chỉ chê bai phẩm chất của những hàng hoá quốc doanh, thì đối với thành phần người ngợm, đoàn thể quốc doanh, người ta không chỉ chê bai mà còn khinh bỉ... Chỉ cần xem lại những điều dối trá, dấu đầu hở đuôi của nhà sư quốc doanh Thích Thanh Tứ qua mấy cuộc phỏng vấn trên các cơ quan truyền thông của đảng cộng sản Việt Nam mới đây, người ta sẽ thấy được sự phán xét của quần chúng đối với một trong nhiều hạng người được nhân dân xếp vào hạng "quốc doanh" tinh tường và chính xác dường nào.Trong những cuộc phỏng vấn cò mồi vừa kể, nhà sư Thích Thanh Tứ ngoài việc lập đi lập lại bài bản của đảng về vấn đế Phật Giáo thì không còn khả năng thuyết phục nào khác. Tuy nhiên, trong vấn đề này chính đảng cũng bối rối, lúng túng, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, nên những điều lập lại vừa kể chỉ khiến đặc tính "quốc doanh" của nhà sư Thích Thanh Tứ càng lộ rõ hơn. Đặc biệt là khi đi vào những vấn đề Phật học thuần tuý.... Nói chung, những điều được nhà sư Thích Thanh Tứ lập lại bao gồm biến cố giàn cảnh vụng về của công an ở Bình Định và Lương Sơn để bắt bớ những vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáp Việt Nam ThốngNhất, một số những pháp lệnh về tôn giáo để tán dương "công đức" của đảng đối với Phật Giáo, cùng câu phương châm đầy mâu thuẫn "Phật pháp, dân tộc và xã hội chủ nghĩa" cũng được sư Thích Thanh Tứ nhấn mạnh nhiều lần, xem như đó là kim chỉ nam của hiệp hội phật giáo quốc doanh.
Trước hết, về biến cố nhà nước đàn áp quý vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Bình Định và Lương Sơn tháng trước, nhà sư Thích Thanh Tứ lập đi lập lại gần như nguyên văn những điều dấu đầu lòi đuôi rất trẻ con mà ông Phan Phi Hổ của ban tôn giáo tỉnh Bình Định đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn trước đó. Là một cán bộ đảng cộng sản, có thể ông Phan Phi Hổ không cần lưu tâm đến truyền thống luân lý của dân tộc nên ông ta đã không ngần ngại bịa chuyện bôi nhọ những tăng sinh ở tu viện Nguyên Thiều. Điều này người ta có thể hiểu được. Tuy nhiên, nhà sư Thích Thanh Tứ, dù chỉ khoác áo nâu sòng để làm nhiệm vụ cho đảng thì ít ra cũng phải biết tinh thần "tôn sư trọng đạo" của người Việt Nam, nhất là của các tăng sinh Phật giáo để thấy rằng, dù các tăng sinh đó có nguyện vọng muốn mời Thầy Huyền Quang ở lại tu viện Nguyên Thiều đi nữa, thì họ cũng dễ dàng đạo đạt ý nguyện đó ngay ở trong chùa một cách chân thành, cung kính. Tinh thần tôn sư trọng đạo chắc chắn sẽ khiến họ tôn trọng quyết định đi hay ở của thầy Huyền Quang, dù quyết định đó không đáp ứng guyện vọng của họ đi nữa. Ông Phan Phi Hổ dựng lên một bức tranh nực cuời, trong đó các tăng sinh, mà ông cho là không biết lễ nghĩa, luân lý là gì, nên mới sáng tinh mơ đã chuẩn bị đâu ra đó, kết bè kết đảng kéo nhau ra chặn xe của thầy Huyền Quang ở ngoài đường y như bọn lục lâm thảo khấu nào đó. Nhà sư Thích Thanh Tứ cũng vu vạ, sỉ nhục tăng sinh bằng cách lập lại hình ảnh giả tưởng này. Người ta phải tự hỏi là tại sao với hàng ngàn dân chúng, hàng trăm tăng ni kéo ra bảo vệ các vị lãnh đaọo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Bình Định mà phim ảnh nhân chứng còn rành rành ra đò, nhà sư Thích Thanh Tứ vẫn có thể nói dối không một chút ngượng ngập được. Với biến cố ở Lương Sơn, nhà sư Thích Thanh Tứ cũng lập lại bài bản của ông Phan Phi Hổ, ông nói là khi đến Nha trang thì có một số tăng ni phật tử ở đó đến vấn an Hoà Thượng Thích Huyền Quang để thỉnh cầu ngài quay trở về Bình Định, còn Hoà Thượng Thích Quảng Độ và một vài vị khác thì về Sài Gòn. Ông Thích Thanh Tứ còn khẳng định "sự thực chỉ có thế", tức là chẳng có ai bị bắt bớ, đàn áp cả, mà theo ông thì chỉ có "bọn xấu tung tin phá hoại, vu khống nhà nước"..... Nếu biết rằng chỉ trước đó vài ngày, phát ngôn viên bộ ngoại giao Lê Dũng đã thú nhận về việc công an chặn đường khám xét, bắt bớ, quản thúc những vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Lương Sơn, thì người ta thấy ngay nhà sư Thich Thanh Tứ chỉ là một con rối vụng về của đảng. Cũng trong biến cố ở Bình Định và Lương Sơn, khi trả lời một cán bộ trẻ đang công tác ở Bắc Âu, nhà sư Thích Than Tứ đã khuyên cán bộ đó đừng tin vào các tin tức ở hải ngoại. Có lẽ ông Thanh Tứ không biết rằng, chính thứ trưởng thường trực bộ ngoại giao Nguyễn Đình Bin trong chuyến công cán lén lút ở Bắc Mỹ tháng 6 vừa qua, khi nói chuyện với một số trí thức hải ngoại đã phải thừa nhận là, với tiến bộ của ngành tin học ngày nay, người Việt hải ngoại biết nhiều và biết rõ về đất nước hơn là người dân ở trong nước. Dĩ nhiên,trong trường hợp này, người ta hiểu là ông Nguyễn Đình Bin không thể nói năng lập lờ với trí thức hải ngoại, nên đã phải nhìn nhận thực tế vừa kể.
Vấn đề kế tiếp được nhà sư Thích Thanh Tứ nói đến khi trả lời các cuộc phỏng vấn là hình ảnh sinh hoạt tôn giáo nhộn nhịp, chùa lớn, phật to ở trong nước. Hình ảnh này có được không phát xuất từ thiện chí của đảng đối với tôn giáo và lại càng không thể chỉ đơn thuần lấy hình ảnh này làm yếu tố duy nhất để kết luận là đảng đã tôn trọng tự do tôn giáo. Người ta đều biết, gần 2 thập niên qua, từ khi chính sách kinh tế xã hội chủ nghia của đảng bị phá sản, đảng không còn khả năng nắm bao tử để khống chế người dân một cách tuyệt đối như trước kia, dẫn đến sự thúc thủ của đảng trong nhiều lãnh vực, trong đó có tôn giáo. Sau hàng chục năm đè nén nhưng không tiêu diệt được niềm tin tiềm tàng của người dân đối với tôn giáo, những nhà thờ, chùa chiền và các nơi thờ tự mà đảng chưa kip đập phá, khi đảng phải thúc thủ, nhượng bộ thì những nơi này có cơ hội hồi sinh để dân chúng đến lễ bái cầu nguyện, kéo theo những sinh hoạt tôn giáo mang tính chất hình thức và sự phát triển của một số các cơ sở vật chất dưới nhãn hiệu tôn giáo, mà đảng không thể nào cấm cản được nữa. Qua những biến chuyển bề ngoài vừa kể, đảng vừa giải tỏa được sức ép quần chúng, vừa kiếm được tiền qua các dịch vụ du lịch tham quan các cơ sở tôn giáo. Đối với thế giới bên ngoài, đảng đã tận dụng hình ảnh này để khoe khoang về tự do tôn giáo tại Việt Nam. Đây cũng là điều nhà sư Thích Thanh Tứ nhai lại trong các cuộc phỏng vấn. Thực ra tự do tôn giáo không chỉ đơn giản qua những hình ảnh bề ngoài như vừa kể, việc tín đồ được đến các cơ sở thừ tự chỉ là một trong rất nhiều yếu tố của sinh hoạt tôn giáo (những yếu tố đó được đề cập rải rác trong suốt trong bài này). Tuy nhiên, khi nói về "công đức" của đảng đối với các tôn giáo, như các viên chức đảng và những nhà sư quốc doanh như ông Thanh Tứ vẫn thường rêu rao, có lẽ người ta phải nhắc lại những tội lỗi tầy đình của đảng đối với Phật Giáo nói riêng và của các tôn giáo nói chung, từ việc đập tượng phá chùa, biến các nơi thờ tự thành nhà kho, cơ quan nhà nước, rạp hát v.v... mà đảng đã thực hiện trong suốt 20 năm ở miền bắc và sau đó, hơn 10 năm sau khi chiếm được miền Nam, đến việc đảng làm biến mất mấy viện đại học Phật Giáo cũng như toàn thể các trường trung học Bồ Đề ở các địa phương v.v.... Nhà sư Thích Thanh Tứ và các sư quốc doanh khác của đảng làm sao mở miệng ăn nói được về những sự kiện như đảng đã giật sập tượng Quan Âm ở Pleiku, đập phá bảo tháp Ngọc Xá Lợi, vứt tượng Phật xuống sông ở Vĩnh Long, biến Việt Nam Quốc Tự thành rạp hát quận 10 ở Sài Gòn, đóng cửa các trường lớp đào tạo tăng sinh trước đây, và những hành động tương tự như vậy ở khắp các địa phương mà dân chúng vẫn chưa quên, mà phạm vi bài này không thể liệt kê hết được.... Chưa hết, đảng không dừng lại ở việc triệt tiêu các biểu tượng vật chất của Phật Giáo như vừa nêu, vì đảng thừa biết rằng, dù cơ sở vật chất có bị huỷ diệt nhưng con người Phật Giáo vẫn tồn tại, thì Phật Giáo vẫn tồn tại. Do đó, đảng phải cắt đứt giòng sinh mệnh này của Phật Giáo qua việc bức tử, tra tấn đến chết hoặc liên tục tù đày, quản thúc các vị chân tu, cô lập họ đối với quần chúng; để thay thế vào đó một tầng lớp sư sãi mà quần chúng nhân dân vẫn gọi một cách khinh miệt là "sư sãi quốc doanh" hầu thực hiện phương châm "đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội", những mong "cải tạo Phật Giáo" theo đường lối xã hội chủ nghĩa. Và đây mới là điểm mấu chốt cho thấy ý đồ tiêu diệt Phật Giáo của đảng, mà hiệp hội phật giáo quốc doanh, trong đó có những sư sãi như nhà sư Thích Thanh Từ đang làm công cụ cho đảng để thực hiện phương châm kỳ khôi đầy mâu thuẫn này.
Người ta sẽ thấy ngay sự mâu thuẫn, kỳ khôi trong phương châm "đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội" của hiệp hội phật giáo quốc doanh nhà nước khi phân tích về căn nguyên của những yếu tố cấu thành của phương châm đó. Xã hội chủ nghĩa (hay là cộng sản), trong tư tưởng cũng như trong hành động đều trái ngược với tư tưởng và hành động của Phật Giáo. Về tư tưởng, chủ nghĩa Cộng sản đã thành hình trên một dòng tư tưởng thuần lý, và kết hợp triết lý duy ý của Hegel với triết lý duy vật của Fnerbach. Tất cả các ý niệm của Cộng sản đều cực đoan, đến mức thiên lệch và độc ác vô tâm. Trong khi đó, tư tưởng của Phật Giáo là tư tưởng trung dung, sự toàn giác của đạo Phật không chỉ đơn thuần ở lý trí mà kết hợp cả tâm lẫn trí. Với tinh thần đại từ đại bi, Phật Giáo tránh tất cả những sự cực đoan.... Qua địa bàn thực hành ta thấy, Cộng sản chủ trương bạo động: bạo động đấu tranh giai cấp (Các Mác) bạo động để cướp chính quyền (Lê Nin) bạo động để thanh trừng nội bộ (Stalin) bạo động để reo rắc mầm Cộng sản ở các nước khác (Mao Trạch Đông).... trong khi đó, tinh thần của Phật giáo là bất bạo động, phương châm của đạo Phật là tự giác, giác tha và tùy duyên phương tiện không thúc đẩy không bắt buộc, không bạo hành, không man trá, không thiên lệch.... Như vậy, phải chăng khi thực hiện phương châm "Phập Pháp, dân tộc, xã hội chủ nghĩa" để "cải tạo" Phật Giáo, cộng sản Việt Nam, qua những sư sãi quốc doanh muốn biến tinh thần đại từ, đại bi đầy bao dung của nhà Phật thành tinh thần cực đoan, với đấu tranh hận thù gia cấp của xã hội chủ nghĩa? Phải chăng những công cụ mặc áo nâu sòng của đảng muốn tiêu diệt phương châm bất bạo động của Phật Giáo để thay thế vào đó chủ trương bạo động của cộng sản? Vì thế, nếu thực hiện được phương châm "Phật pháp, dân tộc, xã hội chủ nghĩa" thì Phật Giáo sẽ còn gì?
Điểm kế tiếp nhà sư Thích Thanh Tứ nói đến trong các cuộc phỏng vấn là những pháp lệnh của nhà nước cộng sản Việt Nam về tôn giáo. Cũng như một số trí thức quốc doanh đã từng viết nhiều bài ca tụng "đức độ" của đảng trong lãnh vực nhân quyền, tôn giáo, đăng trên tạp chí cộng sản bằng cách liệt kê đủ thứ pháp lệnh của đảng đối với những lãnh vực liên hệ, nhà sư Thích Thanh Tứ cũng kể lể một số những sắc lệnh của Hồ Chí Minh, những nghị định của đảng về tôn giáo và coi đó như là bằng chứng cho thấy đảng tôn trọng tự do tín ngưỡng. Có lẽ do thực chất quốc doanh của mình, nhà sư Thanh Tứ (cũng như một số trí thức quốc doanh) không hiểu được là, dù có hàng ngàn pháp lệnh về tự do tôn giáo, nhưng nếu những pháp lệnh đó không thể hiện được giá trị đích thực, tức là không được áp dụng một cách đúng đắn, và nhất là đảng lại không tôn trọng chính những điều luật đảng đã đưa ra như đã làm từ trước đến nay... thì liệt kê những pháp lệnh vô giá trị đó không những không nói lên được điều gì, mà chỉ càng chứng tỏ sự bội tín cũng như sự hà khắc của đảng đối với quyền tự do tôn giáo. Ngoài ra, trên thực tế thì nếu có những pháp lệnh nào đó được thi hành thì cũng chỉ nhằm để bảo vệ quyền cai trị độc tôn của đảng chứ không để phát huy tinh thần tự do, dân chủ. Bởi vậy, câu hỏi "Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có tội gì mà bị cấm hoạt động?" đã được Hoà Thượng Thích Huyền Quang lập đi lập lại nhiều lần trong những văn bản gửi lãnh đạo đảng, nhưng đâu có ai dám trả lời, và làm sao họ có thể trả lời được khi chính họ là những người bội tín và đang ngồi chồm hổm trên luật pháp?. Dĩ nhiên, nếu có ai nêu vấn đế này lên trong cuộc phỏng vấn thì nhà sư Thích Thanh Tứ chỉ còn cách kêu là mệt mỏi để chạy làng như đã làm đối với câu hỏi mang tính cách pháp lý và Phật học của ông Trần Quán ở Đài Loan nêu lên trong một cuộc phỏng vấn. Ở đây chưa cần đề cập đến sự lo ngại của đảng về việc áp dụng một cách đúng đắn những pháp lệnh về tôn giáo, (mà có lẽ đây có lẽ cũng là là nguyên nhân khiến cho sau 17 lần tu chính mà những pháp lệnh đó vẫn không trở thành luật được. Mà ngay cả khi biến thành luật cũng không được thi hành đúng đắn); chỉ cần nhìn vào thực tế về việc nhà nước có thể dẹp bỏ bất cứ một tổ chức, giáo hội nào không nằm trong tay của nhà nước là đủ thấy thực chất của điều gọi là "tôn trọng tự do tôn giáo" của đảng ra sao. Không những thế, Ủy ban liên lạc tôn giáo của nhà nước với nhiệm vụ dòm ngó các hoạt động tôn giáo, song song với nỗ lực kềm hãm phát triển tôn giáo qua việc đào tạo tu sĩ bằng chế độ lý lịch, hoặc bắt giam, quản thúc bất cứ vị lãnh đạo tôn giáo nào tùy thích... tất cả đã khiến sự kể lể về các pháp lệnh đối với tôn giáo của đảng mà nhà sư Thích Thanh Tứ nêu ra trở thành khôi hài.
Người Việt Nam có câu "bộ áo không làm nên thầy tu", nhà sư Thích Thanh Tứ và những sư sãi quốc doanh khác đang ra sức tiếp tay cho đảng trong việc tiêu diệt Phật Giáo, dù có khoác bao nhiêu cái áo nâu sòng, dù có được đảng quảng cáo bằng bao nhiêu hình ảnh to lớn trên các cơ quan truyền thông của đảng thì cũng không trở thành nhà tu hành được. Cái căn cốt quốc doanh, như đã được đề cập đến ở đầu bài này, vì thế cũng sẽ lộ rõ hơn. Ngoài ra, càng được đảng lên giây cót để nói năng như trong thời gian mới đây, những nhà sư đó càng thể hiện được chức năng cái máy nói của mình. Điều đáng buồn là, những cái máy đó lại là máy quốc doanh, tức là mang đặc tính kém phẩm chất.
-- nguyen-Viet-Nam (tosu_cs@yahoo.com), December 14, 2003
CSVN vẫn siết chặt Internet dù số người sử dụng gia tăng
HÀ NỘI 12-12 (TH).- Số người sử dụng Internet gia tăng trong năm 2003 tại Việt Nam nhưng sự gia tăng này lại cũng là sự báo động đến cho chế độ Hà Nội vì sự theo dõi, kiểm soát người sử dụng mạng lưới thông tin điện tử trở nên khó khăn hơn khi CSVN lo sợ các tin tức phơi bày mặt trái của chế độ cũng như các hành động đàn áp tự do tôn giáo, nhân quyền trong nước bị mọi người biết một cách rộng rãi.
Với hơn 400,000 người mở đường dây sử dụng Internet và nhờ đó khoảng 2.5 triệu người có thể "lên lưới" thường xuyên, lãnh vực thông tin điện tử tại Việt Nam đã tăng trưởng gần 30% trong năm 2003.
Hồi tháng 07, Bộ Bưu Chính Viễn Thông CSVN loan báo kế hoạch để phát triển thương mại điện tử. Tuần này, Đỗ Trung Tá, Bộ Trưởng BCVT CSVN đi Geneva, Thụy Sĩ, để dự hội nghị về thông tin điện tử do Liên Hiệp Quốc tổ chức.
Tuy nhiên, các quán cà phê Internet chỉ phát triển nơi các đô thị còn đại đa số dân chúng sống ở các vùng quê không biết đến bao giờ mới nhìn thấy màn hình Internet. Theo các con số thống kê do Hiệp Hội Tin Học CSVN đưa ra, chỉ có khoảng 3.2% người Việt Nam dùng Internet trong khi tỉ lệ này ở Thái Lan là 7.7% và ở Mã Lai là 34%.
"Trong thực tế, chỉ có khoảng 3.5% đến 5% các xí nghiệp quốc doanh là dùng Internet. Đã vậy, các sự sử dụng Internet này cũng chỉ giới hạn ở E-mail và "đấu láo" (Chat). Vũ Hoàng Liên, giám đốc công ty quốc doanh Vietnam Datacommunications Co. (VDC) cho hay như vậy. "Đại đa số người dùng Internet ở Việt Nam là giới thanh thiếu niên, còn công chức cán bộ cũng như doanh nhân dùng rất ít. Đó là sự phí phạm lớn."
Một trong những điều người sử dụng Internet tại Việt Nam rất bực tức là tốc độ Internet chậm như rùa bò lại hay "giở chứng" trong khi lệ phí lại rất đắt. Giá bán một dàn computer loại thường ở Việt Nam cũng rất đắt so với khả năng tiền bạc của đa số dân chúng. Đồng thời, sự an toàn cho thanh toán tiền bạc trên mạng không có gì bảo đảm. Những điều vừa nói là những trở ngại chính để có thể phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.
"Sự an toàn của các sự thanh toán tiền bạc qua Internet ngăn chặn sự phát triển thương mại điện tử." Nguyễn Long, Tổng Thư Ký Hội Tin Học nói. Ngôn ngữ cũng là một trở ngại lớn khác. Phần đông người Việt Nam không biết Anh ngữ, một thứ ngôn ngữ phổ thông dùng trên Internet.
Trên cùng tất cả, trở ngại lớn nhất để Internet và kỹ nghệ tin học, điện tử tại Việt Nam có thể phát triển nhanh hơn, đó là nhu cầu kiểm soát thật chặt chẽ mạng lưới thông tin điện tử để loại bỏ những nguồn tin mà chế độ Hà Nội gọi là của các "tổ chức phản động" ở nước ngoài, những kẻ "cơ hội chính trị" ở trong nước. Các trí thức, đảng viên CSVN lão thành dùng Internet phổ biến tin tức quan điểm và các vấn đề của đất nước ra ngoại quốc vì chế độ Hà Nội kiểm soát hoàn toàn hệ thống báo đài để tuyên truyền một chiều phục vụ đảng CSVN. Các giáo hội tôn giáo cũng dùng Internet để truyền tin tức tranh đấu đòi tự do tôn giáo ra ngoại quốc.
Ngay cả những tin tức chống tham nhũng, hối mại quyền thế, hệ thống báo đài của Đảng và nhà nước Hà Nội cũng bị răn đe thường xuyên là "không được thông tin quá liều lượng" vì sợ "mất đoàn kết nội bộ" và "làm lộ bí mật nhà nước." Cách đây mấy tháng, Hà Nội đòi các công ty, tổ chức (quốc doanh hay đảng đoàn) có trang nhà (website) Internet phải đưa trình kiểm duyệt trước khi các nội dung đó được đưa lên lưới. Tháng 06-2002, Phan Văn Khải ra lệnh cho các quán cà phê Internet phải kiểm soát chặt chẽ hơn nữa để ngăn chặn các nhà tranh đấu đòi tự do tôn giáo, nhân quyền ở trong nước sử dụng những nơi này để phổ biến hay nhận "các tin tức hay bài viết có tính cách phản động". Hành động này được đưa ra sau khi Hà Nội bắt Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, BS Phạm Hồng Sơn và sau này bắt những người khác như BS Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Vũ Bình v.v..
Nhiều người đã bị cáo buộc tội "gián điệp" để bị các bản án tù nặng nề dù họ chẳng làm gián điệp cho một nước nào, chẳng bán tài liệu "bí mật quốc phòng" gì cho ai. Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Trần Dũng Tiến, Nguyễn Thị Hoa, Nhuyễn Vũ Việt, Nguyễn Trực Cường đã dùng Internet để thông tin tranh đấu đòi nhân quyền hay tự do tôn giáo trong nước và đã bị án tù. Một số người khác cũng dùng Internet và cũng bị vu cáo là "gián điệp" còn đang nằm tù và chưa có án như Phạm Quế Dương, Trần Khuê, BS Nguyễn Đan Quế, ký giả Nguyễn Vũ Bình.
Mấy tháng trước một số tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế cho phổ biến một tài liệu nội bộ của Bộ Chính Trị CSVN cảnh giác đám đảng viên thuộc cấp là "các thế lực phản động quốc tế tiếp tục thúc đẩy kế hoạch "diễn tiến hòa bình" nhằm lật đổ chế độ ta."
Tài liệu nội bộ này kết tội ngành truyền thông quốc tế "đặc biệt là các đài truyền thanh, truyền hình, internet, các phòng thông tin của các tòa đại sứ và nhiều tổ chức thông tin khuyến khích chống đối CSVN và cổ võ bạo động nhằm vô hiệu hóa lý tưởng XHCN cũng như tấn công các lãnh đạo của đảng CSVN." Một nhà ngoại giao Tây Phương ở Hà Nội nhận định rằng: "Bất cứ cái gì không nằm trong nhu cầu phục vụ và bảo vệ chế độ độc tài đảng trị ở Hà Nội đều bị coi là sự đe dọa."
-- Con Ho Dam Tac - Nong Duc Manh (Con_Ho_Dam_Tac@hn.vnn.vn), December 14, 2003.