Tra? loi Co^ LEHOANGUYEN . tai sao phai chong Cong-San? tai sao o*? VN khong duoc bau cu*? .V.V..

greenspun.com : LUSENET : Vietnamese American Society : One Thread

Thưa clehoanguyen . Khng hiểu v sao m N-V-Nam khng gửi bi theo Post Answer đươc.Nn Ng-V-Nam đnh phải gửi theo Post New Massage đến c..Mong c thng cảm. C đặt những cu hỏi như "Tai sao phai chong lai cong san ..tai sao nguoi dan viet nam khong duoc bau cu tong thong,chu tich nhu cac nuoc khac..neu cong san sup do o viet nam thi cac anh chi co ve xay dung lai dat nuoc khong ? . Nguyễn-Việt-Nam xin gửi đến c bản dịch THẾ NO L DN CHỦ ? ( Từ tiếng Anh sang ting Việt ) của Bs PHẠM-HỒNG-SƠN ở H-Nội & bi THNH CNG CỦA TUỔI TRẺ HẢI NGOẠI & TƯƠNG LAI DN CHỦ HO VIỆT NAM với Prof. NGUYỄN XUN VINH .....Hy vọng những ti liệu ny, l giải đp cho những vấn đề c thắc mắc..Chc c lun an mạnh & gặp nhiều may mắn.. ======================================================================= THẾ NO L DN CHỦ? Bản dịch của Phạm Hồng Sơn v Thư L Tc giả giữ bản quyền v chịu mọi trch nhiệm về bản dịch Xin knh tặng tất cả những người khao kht Tự do, Ha bnh v mưu cầu một Cuộc sống đầy đủ trn đất nước Việt nam. Dưới đy l bản dịch của Phạm Hồng Sơn từ ti liệu What is Democracy trn Web của to đại sứ Mỹ tại Việt Nam. Phạm Hồng Sơn l một thanh nin 33 tuổi sống tại H Nội. Tốt nghiệp đại học y khoa nhưng khng hnh nghề bc sĩ m chuyển qua kinh doanh. Tốt nghiệp MBA trong chương trnh huấn luyện của Trung tm đo tạo Kinh doanh Php Việt. Phạm Hồng Sơn cũng đ tham dự năm kho huấn luyện về thương mại v tiếp thị của cc cng ty Mỹ tại Việt Nam. Hiện lm gim đớc thương mại cho một cng ty dược phẩm quốc tế đầu tư tại Việt Nam. Mục đch của Phạm Hồng Sơn khi dịch cuốn sch ny l để giới thiệu dn chủ với thế hệ trẻ Việt Nam. Sau khi hon tất bản dịch, Phạm Hồng Sơn đ gửi tặng nhiều cấp lnh đạo Việt Nam, kể cả ng Nng Đức Mạnh. Cử chỉ thn thiện ny đ chỉ khiến Phạm Hồng Sơn được mời đến sở cng an lm việc v được khuyn khng nn tiếp tục nữa. Chng ti xin by tỏ tấm lng tri kỷ, tri n với những người dm thể hiện sự yu chuộng tự do v dn chủ đ mang lại nhiều gợi mở cho chng ti trong cuộc sống. Chng ti xin chn thnh cảm ơn Đại sứ qun Hoa kỳ tại Việt nam đ gip đỡ về tư liệu v thiện ch cho bản dịch ny được hon thnh. Vi dng tm sự: Những năm gần đy tại Việt nam chng ta, từ Dn chủ đ xuất hiện trở lại trong một số nghị quyết, khẩu hiệu của đảng cộng sản, tuy nhin vẫn thể hiện một cch d dặt v trong dn chng vẫn c g đ e ngại khi đề cập. Điều ny cũng tương tự như trước đy đối với cc từ hoặc tập hợp từ khon nng nghiệp, bun bn tư nhn. Trong lĩnh vực kinh doanh hiện nay đ c rất nhiều gio trnh cơ sở về quản trị, giao tiếp, marketing m phần lớn được soạn hoặc dịch hoặc nguyn bản từ cc nước kinh tế tư bản pht triển nhất như Hoa kỳ, Php, Nhật bản, Canada,... gip cho chng ta tm hiểu, học hỏi để thực hnh kinh doanh thnh cng. Đ l một điều đng mừng! Tuy nhin, trong lĩnh vực x hội v chnh trị, hầu như chưa c sự trao đổi tương tự. Chng ti thiển nghĩ, một đất nước pht triển, phải l một đất nước pht triển cả về kinh tế v tư tưởng cũng như một con người khng thể chỉ ch đến việc bồi bổ thể lực cơ bắp m qun đi pht triển tinh thần, tr tuệ. M để pht triển tinh thần, tr tuệ th khng c con đường no khc tốt hơn l để con người đ được tiếp xc, trao đổi, va chạm với x hội xung quanh trong đ c cc c thể khc v thin nhin rộng lớn. Trn tinh thần đ, chng ti đ cố gắng hon thnh sớm bản dịch What is Democracy? từ trang web của đại sứ qun Hoa kỳ tại Việt nam, với sự nng lng của chnh bản thn chng ti v hy vọng cũng l mong đợi của qu vị, như một kiến thức cơ sở tham khảo cho những người quan tm tới vấn đề chnh trị, x hội của Việt nam. Mong muốn th nhiều, nhưng hạn chế về kiến thức chnh trị, luật php, cũng như ngn ngữ Việt v Anh của chng ti, c thể sẽ dẫn đến một số sai st ngoi muốn hoặc chưa lm vừa lng qu vị, mong qu vị hết sức thng cảm v chng ti mong đn nhận sự chỉ bảo, gp . Cuối cng, chng ti xin chn thnh cảm ơn qu vị đ lưu tm tới bản dịch ny v chc qu vị sức khỏe, hạnh phc. H nội, ngy 04/02/2002 Phạm Hồng Sơn

Mọi kiến xin gửi về: Phạm Hồng Sơn 72B Thụy Khu - Ty hồ - H nội ĐT: 847 35 83; 0903 21 3776 E-mail: sonhqv@hn.vnn.vn =============================== Mục Lục LỜI GIỚI THIỆU 5 ĐỊNH NGHĨA DN CHỦ 6 CHNH PHỦ CỦA DN 6 NGUYN TẮC ĐA SỐ V CC QUYỀN THIỂU SỐ 6 X HỘI DN CHỦ 7 CC CỘT TRỤ CỦA NỀN DN CHỦ 7 CC QUYỀN CON NGƯỜI 8 CC QUYỀN KHNG THỂ CHUYỂN NHƯỢNG 8 NGN LUẬN 8 TỰ DO V NIỀM TIN 9 QUYỀN CNG DN: QUYỀN V TRCH NHIỆM 9 CC QUYỀN CON NGƯỜI V CC MỤC TIU CHNH TRỊ 10 CC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI 11 NGUYN TẮC CỦA LUẬT PHP 12 SỰ BNH ĐẲNG V LUẬT PHP 12 THỰC THI ĐNG CCH 12 CC YU CẦU CƠ BẢN ĐỂ THỰC THI LUẬT ĐNG CCH TRONG MỘT THỂ CHẾ DN CHỦ 12 HIẾN PHP 13 BẦU CỬ 14 MẤU CHỐT CỦA BẦU CỬ 14 THẾ NO L BẦU CỬ DN CHỦ? 14 ĐẠO ĐỨC DN CHỦ V PHE ĐỐI LẬP TRUNG THNH 15 VĂN HA DN CHỦ 16 MỘT NỀN VĂN HA CỦA CNG DN 16 DN CHỦ V GIO DỤC 16 XUNG ĐỘT, THỎA HIỆP, ĐỒNG THUẬN 16 CHNH PHỦ DN CHỦ 18 DN CHỦ V QUYỀN LỰC 18 KIỂM TRA V CN BẰNG 18 THỦ TƯỚNG V TỔNG THỐNG 19 NHỮNG NGƯỜI ĐẠI DIỆN 19 NGHỊ VIỆN V TỔNG THỐNG 20 CHNH TRỊ, KINH TẾ V ĐA NGUYN 21 SỰ THAM GIA HOẠT ĐỘNG X HỘI 21 HOẠT ĐỘNG BỎ PHIẾU 21 CC ĐẢNG CHNH TRỊ 22 PHẢN ĐỐI 22 CC PHƯƠNG TIỆN THNG TIN 22 DN CHỦ V KINH TẾ 23 TIẾNG NI 24 CH THCH CỦA NGƯỜI DỊCH 25

LỜI GIỚI THIỆU Chng ta đang sống trong một thời kỳ m tiếng gọi cho tự do v dn chủ đang vang ln trn khắp địa cầu. Đng u vừa vứt bỏ cc chnh phủ chuyn chế tồn tại gần nửa thế kỷ v cc nước cộng ha trong khối X-viết cũ cũng đang tranh đấu để thay thế chế độ cộng sản tồn tại gần 75 năm bằng một trật tự dn chủ mới- ci m trước đy c thể họ chưa bao giờ trải qua. Tuy nhin, bi kịch xảy ra xung quanh cc thay đổi đng kinh ngạc trong hệ thống chnh trị tại chu u đang phủ một bng đen ln viễn cảnh tươi sng m dn chủ hứa sẽ đem lại - chnh sự hứa hẹn ny đang lin kết v huy động sức mạnh của mọi người trn khắp thế giới. Nam Mỹ v Bắc Mỹ hiện nay thực sự đang l một bn cầu của dn chủ; chu Phi đang trải qua một kỷ nguyn v tiền của cải cch dn chủ v cc thể chế dn chủ mới v năng động hiện đang bn rễ tại chu . Hiện tượng ton cầu ny đang lm cho những người hoi nghi phải suy nghĩ lại, những người hoi nghi cho rằng dn chủ tự do hiện đại chỉ l một sản phẩm nhn tạo độc nhất của phương Ty v khng thể ti tạo thnh cng được ở cc nền văn ha khng phải phương Ty. Trong một thế giới m dn chủ đ được thực thi ở nhiều dn tộc khc nhau như Nhật bản, Italia v Vnezula, cc định chế dn chủ c thể ln tiếng một cch chnh thức cho cc kht vọng mang tnh nhn loại ton cầu về tự do v tự quản. Ln sng dng tro mạnh mẽ v tự do trong suốt thập kỷ qua đ đảm bảo cho sự thnh cng tối hậu của n. Chester E. Finn, Jr.- gio sư về chnh sch gio dục v cộng đồng thuộc trường đại học Vanderbilt v l gim đốc của Tổ chức gio dục xuất sắc ( Educational Excellence Network), đ pht biểu trước một nhm cc nh gio dục v cc thnh vin chnh phủ tại Managua, Nicaragua: Con người tự nhin đ ưa thch tự do hơn p bức, giả dụ điều đ c thể thực sự được mang lại, th điều đ khng c nghĩa l cc hệ thống chnh trị dn chủ c thể được xy dựng nn v được duy tr bằng sự mong đợi. Ngược lại, cc tưởng dn chủ lun tồn tại nhưng việc thực hiện dn chủ lại lệ thuộc vo rất nhiều yếu tố. Ngy nay, cc gi trị dn chủ c thể đang được xem lại, nhưng được xem lại theo suốt qu trnh lịch sử lu di của loi người, từ cuộc cch mạng Php cuối thế kỷ 18 cho tới sự xuất hiện của cc chế độ một đảng vo giữa thế kỷ 20, phần lớn cc thể chế dn chủ cn t v tồn tại khng lu. Thực tế ny khng lm cho chng ta bi quan hay thất vọng, m ngược lại đ l sự thch thức chng ta phải vượt qua. Trong khi cc kht vọng tự do l điều tự nhin bẩm sinh của con người th việc thực hiện dn chủ lại đi hỏi phải được gio dục v huấn luyện. Liệu bản lề của lịch sử c cn tiếp tục mở cc cnh cửa của tự do nữa khng? điều ny phụ thuộc vo sự quyết tm cống hiến v sự khn ngoan tập thể của chnh bản thn người dn chứ khng dựa trn bất kỳ qui luật no của lịch sử v chắc chắn cũng khng dựa trn lng nhn từ được mong mỏi từ cc nh lnh đạo độc đon. Khc với một số nhận thức, một x hội dn chủ lnh mạnh khng chỉ đơn giản l một đấu trường cho cc c nhn theo đuổi cc mục đch của c nhn họ. Dn chủ sẽ chỉ được thực hiện khi dn chủ l mong muốn của cc cng dn c quyết tm sử dụng quyền tự do m họ vất vả mới ginh được để tham gia vo đời sống của x hội - gp tiếng ni của họ vo cc tranh luận tập thể, bầu ra cc vị đại diện c trch nhiệm đối với cc hnh động của họ v chấp nhận đi hỏi sự dung ha v thỏa hiệp trong đời sống cng cộng. Cc cng dn của nền dn chủ được tận hưởng quyền tự do c nhn, nhưng họ cũng phải chia sẻ trch nhiệm cng mọi người khc xy dựng một tương lai trong đ cc gi trị cơ bản của tự do v tự quản vẫn tiếp tục được theo đuổi. ĐỊNH NGHĨA DN CHỦ CHNH PHỦ CỦA DN Dn chủ c thể l một từ quen thuộc với nhiều người, nhưng n l một khi niệm vẫn bị hiểu sai v sử dụng sai khi cc chế độ chuyn chnh v cc chnh thể qun sự độc ti lợi dụng để ku gọi sự ủng hộ của quần chng bằng cc nhn hiệu dn chủ giả hiệu cưỡng p.Tuy thế, sức mạnh của tư tưởng dn chủ cũng đ tạo nn những biểu hiện su sắc nhất v nhanh chng nhất trong lịch sử của ch v tr tuệ con người: từ Pericle(1) thời Aten cổ đại tới Vaclav Havel(2) ở cộng ha Sc hiện đại, từ Tuyn ngn độc lập của Thomas Jefferson năm 1776 tới cc bi diễn văn của Andrei Sakharov(3) năm 1989. Theo định nghĩa trong từ điển, dn chủ l chnh phủ được thnh lập bởi nhn dn trong đ quyền lực tối cao được trao cho nhn dn v được thực hiện bởi nhn dn hoặc bởi cc đại diện được bầu ra từ một hệ thống bầu cử tự do. Theo Abrham Lincoln, dn chủ l một chnh phủ của dn, do dn v v dn. Tự do v dn chủ thường hay được sử dụng thay lẫn nhau nhưng hai từ ny khng đồng nghĩa với nhau. Dn chủ thực tế l một tập hợp những tư tưởng v nguyn tắc về tự do v cũng bao gồm một tập hợp cc thng lệ v cc thủ tục đ được đc kết lại từ qu trnh lu di, thường khng bằng phẳng, của lịch sử. Một cch ngắn gọn, dn chủ l sự thể chế ha sự tự do. Trn cơ sở ny chng ta c thể định r được cc nguyn tắc cơ bản đ được thử thch qua thời gian đối với một chnh phủ lập hiến, vấn đề nhn quyền, vấn đề bnh đẳng trước php luật m bất cứ một x hội no được gọi l dn chủ theo đng nghĩa của n cũng cần phải c. Cc thể chế dn chủ được phn ra hai loại cơ bản: trực tiếp v đại diện. Trong nền dn chủ trực tiếp, mọi cng dn, khng cần thng qua trung gian l cc đại diện được bầu hay chỉ định, c thể tham gia vo qu trnh tạo nn cc quyết định cho cc vấn đề x hội/cng cộng. Một hệ thống như thế r rng chỉ c thể thực hiện được với một số t người- v dụ:trong một tổ chức cộng đồng hay một hội đồng bộ lạc no đ hay một đơn vị địa phương của một lin đon lao động khi m cc thnh vin c thể gặp gỡ nhau trong một phng họp để bn bạc, thảo luận cc vấn đề v đi tới quyết định bằng sự đồng thuận hoặc theo nguyn tắc biểu quyết theo đa số. Những người Aten cổ đại, l thể chế dn chủ đầu tin, đ thực hiện kiểu dn chủ trực tiếp với một hội đồng bao gồm số lượng thnh vin chỉ tới 5000 đến 6000 - c thể đy l số lượng tối đa để c thể tập hợp được ở một địa điểm v thực hiện sự dn chủ trực tiếp. X hội hiện đại, với kch thước v tnh phức tạp rất lớn của n, t c cơ hội cho loại dn chủ trực tiếp. Ngay như ở vng đng bắc Hoa kỳ, cuộc họp thị trấn New England đ thnh một truyền thống thing ling, th hiện nay cc cộng đồng đ pht triển lớn tới mức khng thể tập hợp được tất cả cc cư dn ở một nơi để tiến hnh bầu, biểu quyết trực tiếp cho cc vấn đề c tc động tới cuộc sống của chnh họ. Ngy nay hnh thức dn chủ phổ biến nhất, d l một thị trấn 50.000 người hay một dn tộc trn 50 triệu người, l hnh thức dn chủ đại diện: trong đ cc cng dn bầu ra cc cng chức l những người đưa ra cc quyết định chnh trị, xy dựng luật v quản l cc chương trnh v lợi ch cng cộng. Nhn danh nhn dn, cc cng chức đ phải cn nhắc kỹ cng cc vấn đề cng cộng phức tạp theo một qu trnh c tnh hệ thống v tnh tr tuệ, qu trnh ny đi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian, sức lực v vật chất m thường khng thể thực hiện được đối với một số đng cc cng dn đơn lẻ. C nhiều cch rất khc nhau để bầu ra cc vị cng chức. V dụ, ở mức độ quốc gia, cc nh lập php c thể được chọn lựa từ cc bang m mỗi bang bầu một đại diện ứng cử duy nhất. Theo một cch khc gọi l hệ thống đại diện theo tỷ lệ, mỗi đảng chnh trị được đại diện trong cơ quan lập php theo tỷ lệ đạt được trong tổng bầu cử quốc gia. Bầu cử tại tỉnh hay địa phương cũng c thể theo mẫu như mức độ quốc gia hoặc bằng cch thn tnh hơn thng qua sự đồng thuận của cc nhm thay cho bầu cử. D được bầu theo cch no th cc vị cng chức trong nền dn chủ đại diện cũng phải hoạt động v lm việc nhn danh nhn dn v lun phải chịu trch nhiệm cho cc hnh động của họ trước nhn dn.

-- Nguyen-Viet-Nam (tosu_cs@yahoo.com), December 05, 2003

Answers

Cam on anh Nguyen-Viet-Nam nhieu lam.Cang ngay em cang hieu duoc nhieu van de.Em co y kien nhu the nay:doc 1 so bai tren forum thay moi nguoi chui bay qua.theo em muon gioi tre trong nuoc tin cac anh chi thi duong loi dau tranh phai on hoa hon.Men

-- lehoanguyen (timi@yahoo.com), December 05, 2003.

Hahaha, hom nay vui qua troi ! The thao VN doat toi 09 HCV roi. Toan dan VN ai cung vui mung truoc thanh tich cua the thao nuoc nha. Dieu nay chung to VN ngay cang phat trien trong moi linh vuc : kinh te, van hoa xa hoi, the thao, ... Thanh qua cach mang dang duoc the hien ngay cang ro ret. VN da chung to cho quoc te thay rang chung ta da va dang hoa minh trong su phat trien chung cua the gioi. Ai ai cung hieu dieu do. Chi co nhung ke ngu si, cuong loan chong pha que huong, nhung ke dan don dang co tinh nham mat lam ngo moi khong nhan ra dieu do. Lu ngu dot, chung may khong nhan ra rang chung may dang ngay cang bi co lap trong vung bun thu han hay sao. Hay mau thuc tinh di cac con a. Ha ha ha ...

-- Vn vo dich, lu phan dong bu cac ! (hoanhovn@seagames.com), December 06, 2003.

Ha ha bây giờ việt cộng mới biết, niềm thích thú khi tham gia các cuộc tranh tài quốc tế , tội thật , riêng Tôi thì không khoái seas game cho lắm vì so với hockey nó chán làm sao ấy ,so với world cup thì nó tệ hơn nhiều xem đá banh thường ngày trên TV còn dzui hơn

đã vậy còn bộ phim Matrix chưa coi hết nữa bõ thì giờ coi SARS GAME làm gì hỡ trời ,

- hãy đễ cho mấy thằng mọi răng đen mã tấu cã đời không có gì coi ngồi coi cho đã đi -

-- cay huong (cayhuong@vietcong.ngu), December 06, 2003.


THE NAO LA DAN CHU.. TIEP THEO.. NGUYÊN TẮC ĐA SỐ VÀ CÁC QUYỀN THIỂU SỐ

Các thể chế dân chủ là các hệ thống trong đó mọi công dân được tự do đưa ra các quyết định chính trị theo nguyên tắc đa số. Nhưng nguyên tắc đa số cũng chưa phải là dân chủ: ví dụ, không ai có thể gọi một hệ thống nào đó là công bằng hoặc bình đẳng nếu hệ thống đó chấp nhận cho 51% dân số đàn áp 49% dân số còn lại với nhân danh đa số cả. Trong một xã hội dân chủ, nguyên tắc đa số phải được ràng buộc với sự đảm bảo cho các quyền con người của cá nhân, các quyền này, đổi lại, lại đóng vai trò bảo vệ quyền lợi cho bên thiểu số dù đó là dân tộc ít người, nhóm tôn giáo hay chính trị hoặc chỉ đơn giản là những người thua cuộc trong tranh luận về một vấn đề lập pháp nào đó. Các quyền của thiểu số không phụ thuộc vào ý nguyện của bên đa số và cũng không thể bị loại bỏ bởi biểu quyết đa số. Các quyền lợi của thiểu số được bảo vệ bởi vì các luật dân chủ và các định chế của nó bảo vệ quyền lợi cho mọi công dân. Diane Ravitch, nhà nghiên cứu, tác giả và là cựu trợ lý cho bộ trưởng giáo dục Hoa kỳ đã viết trong một bản tham luận cho hội thảo giáo dục tại Ba lan:” khi một thể chế dân chủ kiểu đại diện hoạt động đúng theo hiến pháp mà hiến pháp đó có qui định giới hạn cho quyền lực của chính phủ đồng thời đảm bảo các quyền cơ bản cho mọi công dân, thì chính phủ đó gọi là nền dân chủ lập hiến. Trong một xã hội như thế, các nguyên tắc đa số và các quyền thiểu số được bảo vệ bởi luật và thông qua sự thể chế hóa các điều luật”. Đây chính là các thành phần cơ bản cho mọi thể chế dân chủ hiện đại cho dù nó có thể thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử, văn hóa hay kinh tế. Mặc dù có nhiều sự khác biệt rất lớn giữa các dân tộc và xã hội, các yếu tố cơ bản như chính phủ lập hiến, nguyên tắc đa số kết hợp với quyền thiểu số, quyền cá nhân và nguyên tắc tuân theo luật đều có thể tìm thấy ở Canađa và Côxtarica, Pháp và Bốtsoana, Nhật bản và Ấn độ.

XÃ HỘI DÂN CHỦ Dân chủ không chỉ là một tập hợp các điều luật hợp hiến và các thủ tục để xác định cách thức hoạt động cho chính phủ. Trong một thể chế dân chủ, chính phủ chỉ là một thành phần cùng tồn tại trong một kết cấu xã hội bao gồm rất nhiều các định chế khác nhau, các đảng chính trị, các tổ chức và các hiệp hội. Tính chất đa dạng này được gọi là đa nguyên và thể chế dân chủ đó qui định sự tồn tại, tính pháp lý hay quyền lực của cáùc tổ chức và các định chế khác trong một xã hội dân chủ không phụ thuộc vào chính phủ. Trong một xã hội dân chủ luôn có hàng ngàn các tổ chức tư nhân hoạt động ở mức độ địa phương hay quốc gia. Rất nhiều trong số tổ chức đó đóng vai trò trung gian giữa các cá nhân và các định chế của chính phủ hay các tổ chức xã hội phức tạp khác mà họ cũng là một thành phần, hoặc thực hiện các vai trò, nhiệm vụ mà chính phủ không được giao và tạo cơ hội cho các cá nhân thực hiện quyền và trách nhiệm của mình với tư cách là công dân của một thể chế dân chủ. Các nhóm này thể hiện quyền lợi cho các thành viên của họ theo rất nhiều cách: ủng hộ các ứng cử viên vào các vị trí trong các cơ quan công quyền, tranh luận các vấn đề, và cố gắng tạo ảnh hưởng lên các quyết định chính trị. Chỉ thông qua các nhóm như thế, các cá nhân mới có được con đường để tham gia một cách có ý nghĩa vào cả chính phủ và các cộng đồng của chính họ. Có rất nhiều ví dụ cho các nhóm như thế: các tổ chức nhân đạo và nhà thờ, các nhóm môi trường và thân hữu, các tổ chức kinh doanh và các liên đoàn lao động. Trong một xã hội độc đoán, các tổ chức như thế bị kiểm soát, phải có giấy phép hoạt động và bị theo rõi hoặc phải chịu trách nhiệm đối với chính phủ. Trong một thể chế dân chủ, quyền lực của chính phủ được xác định rõ ràng và bị giới hạn chặt chẽ bởi luật. Và kết quả là các tổ chức tư nhân như thế được tự do, không bị chính phủ kiểm soát; mà ngược lại, rất nhiều các tổ chức đó vận động chính phủ và tìm cách làm nâng cao trách nhiệm của chính phủ đối với các hành động của chính phủ. Một số tổ chức khác quan tâm tới các vấn đề nghệ thuật, thực hiện đức tin tôn giáo, nghiên cứu học thuật hoặc các vấn đề khác có thể có tiếp xúc ít hay hoàn toàn không với chính phủ. Trong một vương quốc riêng tư sôi nổi của thể chế dân chủ như thế, các công dân đều có mọi khả năng tự do và trách nhiệm đối với vấn đề tự quản lý - không bị sức ép của bất kỳ bàn tay quyền lực nào của nhà nước.

CÁC CỘT TRỤ CỦA NỀN DÂN CHỦ · · Quyền tối cao của nhân dân. · · Chính phủ thành lập dựa trên sự nhất trí của người dân. · · Nguyên tắc đa số. · · Các quyền thiểu số. · · Đảm bảo các quyền cơ bản của con người. · · Bầu cử tự do và công bằng. · · Bình đẳng trước pháp luật. · · Thực hiện đúng luật. · · Hiến pháp đặt ra các giới hạn quyền lực đối với chính phủ. · · Đa nguyên về chính trị, kinh tế và xã hội. · · Thúc đẩy các giá trị của dung hòa, thực dụng, hợp tác và thỏa hiệp.

CÁC QUYỀN CON NGƯỜI

CÁC QUYỀN KHÔNG THỂ CHUYỂN NHƯỢNG Chúng ta coi những sự thật sau đây là hiển nhiên: mọi con người được sinh ra đều bình đẳng, họ đã được tạo hóa ban cho một số quyền không thể chuyển nhượng được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền được theo đuổi hạnh phúc. Để bảo đảm cho các quyền đó, các chính phủ được thiết lập nên với quyền lực chính đáng dựa trên sự nhất trí của những người bị quản lý ( người dân). Trong những lời đáng ghi nhớ này của bản Tuyên ngôn độc lập Hoa kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ. Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chính các chính phủ đó được lập ra để bảo vệ các quyền tự do đó - các quyền mà mọi con người cá nhân hiển nhiên có do sự tồn tại của cá nhân đó.

Theo quan điểm của các nhà triết học ánh sáng của thế kỷ 17 và 18 thì các quyền không thể chuyển nhượng được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ. Các quyền này không bị phá hủy khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc “ chuyển nhượng” chúng. Các quyền không thể chuyển nhượng bao gồm các quyền tự do ngôn luận và thể hiện, tự do tín ngưỡng và nhận thức, tự do hội họp và quyền được bảo hộ bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, đây chưa phải là bản liệt kê đầy đủ các quyền mà các công dân có được trong một nền dân chủ. Các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận các quyền dân sự như quyền được xét xử công bằng, và còn lập nên các quyền chủ chốt mà bất kỳ chính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì. Vì các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó. Ví dụ như điều bổ xung đầu tiên của Hiến pháp Hoa kỳ không đưa ra quyền tự do tín ngưỡng hay tự to báo chí cho dân chúng. Điều bổ xung đó nghiêm cấm quốc hội thông qua các luật vi phạm tới tự do ngôn lụân, tự do tín ngưỡng và quyền hội họp ôn hòa. Nhà sử học, Leonard Levy đã phát biểu:“ Các cá nhân có thể trở nên tự do khi chính phủ của họ không tự do .“ Các nội dung chi tiết và các thủ tục của luật pháp liên quan tới quyền con người cần phải thay đổi tùy theo xã hội, nhưng tất cả các nền dân chủ đều được giao trọng trách trong việc xây dựng một cấu trúc xã hội lập hiến, lập pháp để bảo đảm cho các quyền con người đó.

NGÔN LUẬN Tự do ngôn luận và thể hiện là huyết mạch của bất kỳ xã hội dân chủ nào. Tranh luận, bỏ phiếu, hội họp và phản kháng, thờ phụng và bảo đảm công lý cho mọi người - tất cả những điều này có được đều dựa trên sự tự do và thông suốt của ngôn luận và thông tin. Patrick Wilson, người Canađa, sáng lập ra chương trình truyền hình Đấu tranh cho Dân chủ đã quan sát thấy:” Dân chủ là trao đổi thông tin: mọi người trao đổi với người khác về các vấn đề chung của họ và gây dựng nên một số phận chung. Trước khi con người tự quản được mình thì họ cần phải được tự do để tự thể hiện mình đã.” Các công dân trong thể chế dân chủ được sống với một niềm tin chắc chắn là thông qua trao đổi cởi mở về các tư tưởng và quan điểm, chân lý và sự thật sẽ được tìm thấy để chiến thắng sai lầm hay dối trá, đồng thời các quan điểm hay các tư tưởng khác sẽ được nhận biết giá trị rõ hơn, các vấn đề thỏa hiệp cũng được xác định rõ ràng và khi đó con đường dẫn tới tiến bộ, phát triển sẽ được khai thông. Sự cởi mở trong trao đổi càng lớn thì kết quả càng tốt đẹp. Nhà bình luận người Mỹ F.B White đã diễn tả điều đó theo cách sau:” Báo chí trong đất nước tự do của chúng ta được tin cậy và hữu ích cho mọi người không phải vì nó có đặc điểm tốt đẹp nào đó mà chính vì sự đa dạng rất lớn của nó. Chừng nào càng có nhiều chủ thể, mỗi chủ thể đều theo đuổi một sự thật riêng của họ thì chúng ta - những người dân càng có cơ hội đạt tới chân lý và mọi vấn đề luôn được sáng tỏ. Đó là sự an toàn của số đông.” Trái hẳn với các chế độ độc tài, các chính phủ dân chủ không kiểm soát, ra lệnh hay đánh giá nội dung của ngôn luận viết hoặc nói. Thể chế dân chủ dựa trên các công dân có học vấn và hiểu biết mà khả năng tiếp cận của họ đối với thông tin càng lớn thì càng làm cho họ có nhiều khả năng tham gia đầy đủ hơn vào các hoạt động xã hội. Sự dốt nát sinh ra sự thờ ơ. Thể chế dân chủ đạt được thịnh vượng dựa trên sức mạnh của các công dân luôn được tắm trong các dòng tư tưởng, dữ kiện, ý kiến và sự xét đoán một cách tự do. Nhưng chính phủ nên làm gì trong trường hợp các phương tiện thông tin hoặc một số tổ chức khác lạm dụng quyền tự do ngôn luận để tạo ra các thông tin mà theo đa số là không đúng sự thật, phản cảm, vô trách nhiệm hoặc đơn giản chỉ là khó chấp nhận? Nói chung, câu trả lời sẽ là: không làm gì cả! đơn giản chỉ là: công việc của chính phủ không phải để xử lý những vấn đề như thế. Nói chung, phương thuốc cho tự do ngôn luận chính là ngôn luận tự do hơn. Điều này có vẻ nghịch lý, nhưng nhân danh ngôn luận tự do, thể chế dân chủ đôi khi phải bảo vệ quyền của các cá nhân và các tổ chức khi họ tự cho rằng các chính sách phi dân chủ đang đàn áp ngôn luận tự do. Các công dân của xã hội dân chủ bảo vệ các quyền này với một niềm tin tưởng là sự tranh luận cởi mở cuối cùng sẽ dẫn tới sự thật lớn hơn và các hành động của dân chúng sẽ khôn ngoan hơn so với khi ngôn luận hay sự bất đồng bị bóp nghẹt.

Hơn thế nữa, lý do cần phải có ngôn luận tự do còn ở chỗ sự đàn áp ngôn luận tự do mà ta thấy đối với ai đó hôm nay sẽ có khả năng là mối đe dọa tới ngôn luận tự do của chính chúng ta vào ngày mai. Một trong những biện luận kinh điển cho quan điểm này là của nhà triết học người Anh John Stuart Mill, ông đã chỉ ra từ năm 1859 trong luận văn “ Bàn về Tự do” rằng toàn dân bị tổn hại khi ngôn luận bị đàn áp. “ Nếu dư luận là đúng, họ bị tước đoạt mất cơ hội chuyển sự nhầm lẫn thành sự thật, nếu dư luận là sai, họ mất cơ hội để có được nhận thức rõ ràng hơn và mất cơ hội nhìn nhận sự thật sâu sắc hơn khi được đối chiếu với sai lầm.” Hệ quả của tự do ngôn luận là quyền của nhân dân được nhóm họp và đòi hỏi một cách ôn hòa chính phủ phải lắng nghe những mối bất bình của họ. Không có quyền hội họp, không có quyền được lắng nghe, khi đó tự do ngôn luận không còn giá trị nữa. Do đó, tự do ngôn luận coi như là vô nghĩa nếu không được gắn bó mật thiết với quyền hội họp, phản kháng và quyền đòi hỏi thay đổi. Các chính phủ dân chủ có thể qui định một cách hợp pháp về thời gian và địa điểm của các cuộc tập hợp và tuần hành chính trị để duy trì hòa bình, nhưng họ cũng không thể sử dụng quyền lực để đàn áp sự phản kháng hoặc ngăn cản các nhóm, các tổ chức phản đối lên tiếng cho công luận nghe rõ.

TỰ DO VÀ NIỀM TIN Tự do tín ngưỡng, hay nói rộng hơn là tự do về nhận thức có nghĩa là không ai bị đòi hỏi phải tin theo một tôn giáo hoặc một niềm tin nào ngược lại với mong muốn của riêng họ. Hơn nữa, không ai bị trừng phạt hay ngược đãi bằng bất kỳ hình thức nào chỉ vì họ chọn lựa một tôn giáo này chứ không phải tôn giáo khác, hoặc không chọn lựa một tôn giáo nào cả. Nhà nước dân chủ công nhận niềm tin tôn giáo của con người là vấn đề hết sức riêng tư. Theo một nghĩa liên quan, tự do tôn giáo có nghĩa là không một người nào bị chính phủ bắt buộc phải chấp nhận một nhà thờ hoặc một niềm tin chính thức nào cả. Trẻ em không bị bắt buộc phải theo học ở một trường tôn giáo và không một ai bị đòi hỏi phải tham dự các công việc tôn giáo, cầu nguyện hoặc tham gia vào các hoạt động tôn giáo ngược với ý nguyện của họ. Trải qua lịch sử và truyền thống lâu đời, rất nhiều các quốc gia dân chủ đã thiết lập một cách chính thống các nhà thờ hoặc tôn giáo với sự bảo trợ của nhà nước. Tuy nhiên, điều đó không làm giảm nhẹ trách nhiệm của các chính phủ dân chủ trong vai trò bảo vệ tự do cho các cá nhân mà tín ngưỡng của họ khác với tôn giáo được khuyến khích một cách chính thống.

QUYỀN CÔNG DÂN: QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM Các thể chế dân chủ dựa trên nguyên tắc là chính phủ tồn tại để phục vụ nhân dân, còn nhân dân không tồn tại để phục vụ chính phủ. Nói cách khác, nhân dân là các công dân của nhà nước dân chủ chứ không phải là đối tượng của nhà nước dân chủ. Khi nhà nước bảo vệ những quyền của các công dân, thì đáp lại, các công dân cho nhà nước lòng trung thành của họ. Dưới một chế độ độc tài, nhà nước tồn tại như một thực thể tách rời xã hội, đòi hỏi lòng trung thành và sự phục vụ từ những người dân của họ mà không có một bổn phận tương xứng nào đối với dân chúng để đảm bảo có được sự nhất trí của người dân đối với các hành động của họ. Chẳng hạn, khi các công dân trong một xã hội dân chủ đi bầu cử là họ thực thi quyền và trách nhiệm của họ để nhằm xác định ai sẽ là người thay mặt họ thực hiện quản lý xã hội. Trái lại, trong một nhà nước độc tài, những hoạt động bầu cử chỉ nhằm hợp pháp hóa sự lựa chọn đã định sẵn của chế độ. Sự bầu cử trong một xã hội như thế không dính líu gì tới các quyền cũng như trách nhiệm của các công dân, mà chỉ là một sự bày tỏ cưỡng bức sự ủng hộ của công chúng cho chính phủ. Tưng tự, các công dân trong một xã hội dân chủ được tận hưởng quyền tham dự vào các tổ chức không phụ thuộc vào chính phủ và được tự do tham gia vào các hoạt động của xã hội. Đồng thời họ cũng phải chấp nhận nghĩa vụ như quyền tham gia đó: Tự tìm hiểu và học hỏi các vấn đề nảy sinh, biết dung hòa khi xử sự với những người có quan điểm trái ngược, và biết thỏa hiệp khi cần thiết để đạt được thỏa thuận. Tuy nhiên, trong một nhà nước độc tài chỉ có rất ít hoặc không có các tổ chức hoặc các nhóm tình nguyện tư nhân. Các tổ chức đó, nếu có, không đóng vai trò như các phương tiện cho các cá nhân để tranh luận các vấn đề hay thực hiện các công việc riêng của họ mà họ chỉ phục vụ như một cánh tay của nhà nước để bắt các đối tượng của nhà nước phải phục tùng. Thực hiện nghĩa vụ quân sự cho ta một ví dụ khác nhau và trái ngược nhau về quyền và trách nhiệm trong các xã hội dân chủ và phi dân chủ. Cả hai loại xã hội đó đều yêu cầu các thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự trong thời bình. Trong nhà nước độc tài, sự bắt buộc này được áp đặt một cách đơn phương. Trong nhà nước dân chủ, thời hạn phục vụ trong quân đội là một nhiệm vụ mà các công dân phải thực hiện thông qua luật của chính phủ do chính các công dân đó bầu ra. Trong mọi xã hội, việc thực hiện nghĩa vụ quân sự thời bình có thể không được các cá nhân hoan nghênh. Nhưng người lính-công dân trong một xã hội dân chủ thực hiện nghĩa vụ đó với một nhận thức là họ đang đảm nhiệm một bổn phận mà xã hội của anh ta đã tự cam kết phải thực hiện. Hơn thế nữa, các thành viên trong một xã hội dân chủ có quyền thực hiện nghĩa vụ đó theo cách tập thể hoặc thay đổi bổn phận đó: giải trừ nghĩa vụ quân sự bắt buộc và thành lập quân đội tự nguyện như Hoa kỳ và một số nước khác đã làm; thay đổi thời hạn phục vụ trong quân đội như ở Đức; hoặc ở Thụy sĩ, duy trì một đội ngũ nam giới dự bị cho nghĩa vụ quân sự như một phần cơ bản của quyền công dân. Quyền công dân trong những ví dụ kể trên dẫn đến một định nghĩa rộng hơn về quyền và nghĩa vụ, bởi lẽ chúng là hai mặt đối lập của một vấn đề. Việc thực hiện các quyền của một cá nhân cũng đồng thời là trách nhiệm của họ phải bảo vệ và nâng cao các quyền đó của chính họ và của người khác. Ngay cả các công dân trong các thể chế dân chủ đã được thiết lập vững mạnh cũng thường hiểu sai mối quan hệ đó và thường chỉ chú ý tới lợi ích của các quyền trong khi phớt lờ các trách nhiệm, nghĩa vụ. Như nhà chính trị học Benjamin Barber ghi nhận:” Dân chủ thường được hiểu như là sự thống trị của số đông và quyền càng được hiểu như sự sở hữu của các cá nhân và dẫn đến như là sự đối lập tất yếu đối với dân chủ số đông. Nhưng như thế là hiểu sai cả về quyền lẫn dân chủ.” Chúng ta nhận thấy một sự thật chắc chắn là khi các công dân thực hiện các quyền cơ bản hay quyền không thể chuyển nhượng được - như tự do ngôn luận, hội họp và tôn giáo thì chính các quyền đó sẽ thiết lập nên các giới hạn đối với mọi chính phủ được xây dựng trên cơ sở dân chủ. Do đó những quyền cá nhân chính là bức tường thành ngăn chặn sự lạm dụng của chính phủ hoặc bất kỳ số đông chính trị nhất thời nào. Nhưng theo một nghĩa khác, các quyền cũng như các cá nhân con người, không hoạt động một cách cô lập. Quyền không phải là sự sở hữu riêng của cá nhân mà nó chỉ tồn tại khi nó được thừa nhận bởi các công dân khác của xã hội. Cử tri, như nhà triết học người Mỹ Sidney Hook đã diễn tả đó là “ người trông coi sau chót đối với sự tự do của chính họ.”. Với quan điểm này thì chính phủ dân chủ do dân bầu và có trách nhiệm trước dân không thể là kẻ đối lập với các quyền cá nhân mà phải là người bảo hộ các quyền đó. Chính khi nâng cao các quyền lợi của họ mà các công dân trong một thể chế dân chủ thực hiện các nghĩa vụ và bổn phận của họ. Nói rộng ra thì các nghĩa vụ này bao gồm cả sự tham gia vào các hoạt động dân chủ để đảm bảo dân chủ được thực hiện. Ở mức tối thiểu, các công dân nên tự tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề bức xúc đang diễn ra trong xã hội của họ, như việc bỏ phiếu bầu cho các vị trí lãnh đạo cao cấp sao cho sáng suốt. Và thực hiện một số nghĩa vụ khác như tham gia đoàn hội thẩm trong các phiên tòa dân sự hoặc hình sự một cách tự nguyện hoặc đôi khi tuân theo luật qui định. Cốt lõi của hành động dân chủ là sự tham gia của các công dân một cách tích cực và tự do lựa chọn vào trong đời sống công cộng của cộng đồng hay quốc gia của họ. Nếu không duy trì được sự tham gia rộng rãi này, dân chủ sẽ tàn lụi và trở thành đặc quyền cho một nhóm nhỏ đã được lựa chọn trong các tổ chức. Nhưng với sự cam kết tích cực của các cá nhân trong toàn xã hội, các thể chế dân chủ có thể vượt qua các cơn bão chính trị hay kinh tế - là các vấn đề không thể tránh khỏi đối với mọi xã hội, mà không phải hy sinh các quyền lợi và sự tự do mà họ đã tuyên thệ gìn giữ. Sự tham gia tích cực vào đời sống xã hội thường được hiểu một cách hạn hẹp như là sự tranh giành các vị trí chính trị. Nhưng sự tham gia của các công dân trong một xã hội dân chủ mang ý nghĩa rộng lớn hơn rất nhiều việc chỉ tham gia vào các cuộc tranh cử. Ở mức độ tỉnh hoặc địa phương, các công dân có thể tham gia vào những việc như họat động trong các ủy ban trường học, thành lập các nhóm cộng đồng hoặc kể cả giữ các vị trí lãnh đạo ở địa phương. Ở mức độ bang, tỉnh, hoặc quốc gia, các công dân có thể đóng góp ý kiến của họ bằng cách phát biểu hoặc gửi văn bản tới các cuộc tranh luận về các vấn đề công cộng hoặc họ có thể tham gia vào các đảng chính trị, liên đoàn lao động hoặc các tổ chức tình nguyện. Cho dù ở mức độ nào, một nền dân chủ lành mạnh cũng dựa trên sự tham gia liên tục, công khai của số đông công dân.

Diane Ravitch đã viết:” Dân chủ là một quá trình, một cách thức sống và làm việc cùng nhau. Đó là một quá trình luôn phát triển chứ không đứng im. Nó đòi hỏi sự hợp tác, thỏa hiệp, và dung hòa giữa các công dân. Làm cho dân chủ được thực hiện là một điều khó khăn chứ không dễ dàng. Tự do đồng nghĩa với nghĩa vụ chứ không phải tự do từ nghĩa vụ.” Thể chế dân chủ là sự biểu hiện các lý tưởng về tự do và tự thể hiện, nhưng nó cũng là sự thể hiện rõ ràng về bản chất của loài người. Nó không đòi hỏi con người phải có một đạo đức toàn diện, nó chỉ đòi hỏi con người phải có trách nhiệm. Như nhà thần học người Mỹ Reinhold Nieburh đã phát biểu:” Khả năng của con người đấu tranh cho sự công bằng sẽ tạo nên dân chủ, nhưng sự suy đồi của con người dẫn tới bất công sẽ tạo nên đòi hỏi tất yếu của dân chủ.”

CÁC QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CÁC MỤC TIÊU CHÍNH TRỊ Như một nguyên lý, sự bảo vệ quyền con người được ủng hộ ở khắp nơi: được đưa vào hiến pháp của các nước trên khắp thế giới cũng như được đưa vào trong Hiến chương Liên hợp quốc hoặc trong các thỏa thuận quốc tế như thỏa ước Helsinki ( hội nghị về an ninh và hợp tác châu Âu - CSCE ). Nhưng việc phân biệt các loại quyền khác nhau của con người lại là một vấn đề khác. Gần đây, có một xu thế, đặc biệt lưu hành trong các tổ chức quốc tế, là mở rộng các quyền cơ bản của con người. Từ các tự do cơ bản về ngôn luận và đối xử bình đẳng trước pháp luật, các tổ chức đó bổ xung thêm các quyền có việc làm, quyền được hưởng giáo dục, quyền có tính văn hóa riêng hay quốc tịch và có điều kiện sống thích hợp. Các đề nghị đó đều là những nguyện vọng có ý nghĩa, nhưng khi những yêu cầu như thế trở thành quyền sẽ có nguy cơ làm giảm giá trị ý nghĩa của các quyền cơ bản của người công dân, của con người . Hơn nữa, chúng làm giảm đi sự phân biệt giữa các quyền mà mọi cá nhân đều có và cũng làm sao nhãng mục tiêu mà mọi cá nhân, mọi tổ chức, mọi chính phủ quyết tâm phấn đấu để đạt được. Để bảo vệ các quyền không thể chuyển nhượng được, như quyền tự do ngôn luận, các chính phủ phải biết kiềm chế bằng cách tự giới hạn các hành động của mình. Trong khi để khuyến khích giáo dục, phát triển y tế và đảm bảo công ăn việc làm lại đòi hỏi chính phủ điều ngược lại: chính phủ phải tích cực tham gia trong việc thúc đẩy một số chính sách và chương trình xã hội. Sự chăm sóc đầy đủ về sức khỏe và các cơ hội giáo dục phải là quyền lợi đương nhiên của mọi trẻ em. Nhưng điều đáng buồn là trên thực tế không phải như vậy, và khả năng của mỗi xã hội để đạt được mục tiêu này cũng rất khác nhau. Tuy nhiên, trong khi mong muốn biến tất cả mọi khát vọng của loài người trở thành quyền của con người, vô hình chung các chính phủ đang có nguy cơ làm tăng thêm chủ nghĩa hoài nghi và mang lại sự coi nhẹ đối với tất cả các quyền của con người.

CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI - - Tự do ngôn luận, thể hiện và tự do báo chí. - - Tự do tôn giáo. - - Tự do hội họp và lập hội. - - Quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật. - - Quyền được tố tụng đúng đắn và xét xử công bằng. XIN TRÍCH ĐĂNG LẠI BẢN DỊCH CỦA BS HỒNG SƠN NHƯ LÀ MỘT CÁCH ĐỂ TRÂN TRỌNG VÀ THƯƠNG NHỚ ĐẾN BS ĐANG BI CÔNG SẢN BỎ TÙ VÔ TỘI VẠ.

-- Nguyen-Viet-Nam (tosu_cs@yahoo.com), December 05, 2003.

-- Con Ho Dam Tac - Nong Duc Manh (Con_Ho_Dam_Tac@hn.vnn.vn), December 07, 2003.


THÀNH CÔNG CỦA TUỔI TRẺ HẢI NGOẠI & TƯƠNG LAI DÂN CHỦ HOÁ VIỆT NAM với Prof. NGUYỄN XUÂN VINH
============================================

The success of the youth overseas and the future of the democratization of VN Prof. NGUYEN XUAN VINH The writer described the successes of the second Viet generation overseas, with such young and famous profiles as: - Duong Nguyet Anh: the author of thermobaric bomb having been used in the 2001 war against the Taliban in Afghanistan. She was described by Journalist Robert Little of the Baltimore Sun of her task as a female scientist who helped the Naval Surface Warfare Center at Indian Head, Maryland successfully manufacture the thermobaric bomb which is very effective in destroying the enemy's troops hiding deeply inside the tunnels under a mountain. - Engineer Doan Chinh Trung: Right now is one of the vice chairmen of Micron Corporation in Boise, Idaho. He has been recognized with 132 invention licences. - Dr. Nghiem Dai Dao, professor at a medical university in Pennsylvania who invented a new technique of planting surgery of pancreas for Type I diabetics. He also has had published nearly 200 studies in medical research journals in North America. - Dr. Trinh Duc Phuong, a specialist in contagious diseases, who has been in four consecutive years, got the selection from the colleagues of the branch as an excellent doctor. - Dr. Truong Dung, a famous researcher of Parkinson disease, who conducts his research in a laboratory at Long Beach, California, has been visited for examination by numerous patients from abroad. - Mr. Tran Nhu Hoang, a honor graduate from the American Air Forces Academy at Colorado Springs, who was reminded by President Bill Clinton in an international speech as a special example of success of Vietnamese refugees. Later, he got the Rhodes Scholarship which is a famous grant, to be trained in England before returning to the U.S. to study and graduate as a medical doctor from Harvard University. -Miss Nguyen Thi Cam Van, second in the graduated examination of a class of 737 students of the Navy Officers Training Academy in Annapolis. - Airforce Major Pham Hoang Thu, an instructor of the supersonic jet F-16. - Astronaut Trinh Huu Chau (Eugene H. Trinh), a physicist who flew in a Shuttle spacecraft in 1995. - Dr. Cai Van Khiem, Chief Division Technologist of Hugues Aircraft Company, who got many invention licences of practical manufacturing. - Prof. Nguyen Huu Xuong - University of California in San Diego, the inventor of Xuong Machine which has been recognized by the National Institutes of Health as a national source of research. - Madame Hoang Thuy Quan, a Vietnamese woman first appointed as financial director for the Metropolitan of Montreal, with budget to 3 billion Canadian dollars. - Dr. Dinh Phung Viet, Law Professor at the famous Law School of Georgetown University, last year was submitted by President George W. Bush to the Congress to be appointed as Deputy Secretary of Justice... The list is too long to continue. On my part, though I have been 72 years old, I still think of our country. Recently - together with three other Viet patriots whose names are: Pham Ngoc Luy, Phan Quang Tue, and Ngo Duc Diem - we made efforts to study the constitutions and political regimes of typical progressive nations in the world, to come up with a Declaration called "Vietnam Democracy Declaration, 2002" which will be publicly announced in the near future. The purpose of this declaration is to help turn Vietnam into a democratic nation, with Liberty and Happiness for the people.

---------------

Sự Thành Công của Giới Trẻ Việt Nam trên Nước Người và Một Tương Lai Dân Chủ cho Quê Hương Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh LTS. Chúng tôi đặc biệt giới thiệu bài nói chuyện của giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh tại Đêm Không Gian Hội Ngộ ngày 28 tháng 9, năm 2002 tại Portland của Hội Không Quân VNCH Oregon và Tây Nam Washington. Mới đây, trong một bài phỏng vấn tôi của Nguyệt San Văn Học Khởi Hành, nhà văn Viên Linh là chủ nhiệm tờ báo đã viết: "Từ năm 1975 Toàn Phong bắt đầu viết văn trở lại để đóng góp vào nền văn học Việt Nam ở hải ngoại". Từ năm 1975 tôi viết văn trở lại vì đã có người đọc. Trước đó, ngoài những tài liệu khoa học, để nghiên cứu hay giảng dậy tôi viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, và có vài bài được dịch ra Nga ngữ, tôi có viết mấy bài nói về tinh thần chiến đấu anh dũng chống cộng sản của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đăng trên báo Denver Post ở Colorado, nhưng đó là những bài viết cho độc giả Hoa Kỳ. Từ dạo đó, điều tôi vẫn tha thiết viết được là viết bằng tiếng Việt mến yêu tôi đã được nghe từ khi mới ra đời, và viết cho thế hệ trẻ của chúng ta đọc. Khi chúng ta bước vào thiên niên kỷ 2000 thì một phần tư thế kỷ cũng đã trôi qua kể từ ngày người Việt ào ạt rời nước ra đi. Một phần tư thế kỷ này cũng đã đưa lại cho cộng đồng người Việt ở hải ngoại một thế hệ mới. Chúng ta ai cũng biết là giới trẻ Việt ở hải ngoại đã đạt được những thành tích xuất sắc trong mọi ngành. Nhưng có điều đáng tiếc là những tin thành công của người mình thường đến với chúng ta rất thưa thớt, và chỉ qua những bài báo tiếng Việt, phổ biến trong cộng đồng. Một đôi khi ta đọc được những tin tức này trên báo Mỹ hay được nhìn thấy trên những đài truyền hình. Cho đến nay những trường hợp như thế này cũng còn hiếm hoi và tôi nghĩ những người làm trong ngành truyền thông, nếu gặp dịp thì nên phổ biến nhanh chóng những tin tức thành công của thế hệ trẻ để gây phấn khởi trong lòng mọi người. Tin mới nhất trong năm 2002 là một bài viết của ký giả Robert Little của báo The Baltimore Sun về nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã giúp cho Naval Surface Warfare Center ở Indian Head, Maryland chế tạo thành công bom nổ "nhiệt áp" (thermobaric) rất công hiệu để diêït trừ địch quân ẩn sâu trong lòng núi. Bài báo đã được dịch ra tiếng Việt và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Cùng một lúc hai bản tiếng Anh và tiếng Việt cũng được tung ra trên mạng lưới điện toán toàn cầu. Từ mười năm nay, thế hệ thứ hai của những người Việt di cư đã bắt đầu đóng góp hữu hiệu vào đất nước này và những thành quả của các bạn phải được giới thiệu với mọi người, trước hết trên báo chí tiêùng Việt, và nếu có những trường hợp thật xuất sắc như với khoa học gia Dương Nguyệt Ánh thì chính người mình phải chuyển tin tới giới truyền thông Anh ngữ mới phải. p> Những cộng đồng Á châu khác như cộng đồng Trung Hoa họ thường làm như thế để giới thiệu sự thành công của sắc dân họ trên toàn quốc. Cũng vì vậy mà tiếng nói của họ được chính quyền lắng nghe nhiều hơn so với các cộng đồng gốc Á châu khác. Tháng 7 năm 2000, nhân dịp Đại Hội Võ Bị Hải Ngoại kỳ thứ 12 ở Orange County, California, đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu gồm có các con và cháu của những Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam được chính thức giới thiệu ở đại hội và trên toàn cầu. Tôi có vinh dự được anh Tổng Hội Trưởng Trần Văn Thư và cháu Trần Quốc Dũng là Tổng Đoàn Trưởng Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu mời về để ngỏ lời với thế hệ thứ hai của Võ Bị. Từ nhiều năm nay tôi đã viết về những thành công của giới trẻ Việt và cũng đã nhiều lần nói chuyện với các bạn ở khắp nơi, nhưng đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với một thế hệ đồng nhất mang dòng máu kiên cường và anh dũng của ông cha, những sinh viên đã theo tiếng gọi của non sông nhập ngũ để được huấn luyện thành những sĩ quan tài danh của đất nước. Các cháu mang sứ mạng nối tiếp truyền thống Võ Bị, gây tình thân ái trong đại gia đình, luyện tài năng để đóng góp hữu hiệu vào xã hội mới, nhưng cũng không quên cội nguồn, nghe theo lời phụ mẫu và huynh trưởng để gìn giữ những truyền thống cao đẹp của đất nước. Gặp các bạn trẻ ở đại hội, các cháu trẻ thì còn đang theo học ở các đại học, các anh chị lớn hơn nay đã là những công dân lỗi lạc ở mọi ngành, là các bác sĩ, kỹ sư, luật gia hay ở trong thương trường, những cháu ở trong quân đội cả ba ngành hải, lục và không quân nếu mặc quân phục tới dự tôi đã nhìn thấy thấp thoáng những cấp hiệu thiếu tá hay đôi khi là trung tá, lòng tôi thấy rộn ràng một niềm vui khôn tả. Bài nói chuyện tôi đã viết sẵn, nhưng đoạn khuyên các em cố gắng học hỏi ở học đường và ở trường đời cho theo kịp bằng người, tôi đã bỏ đi vì thấy là những lời khuyên này thực sự không cần thiết. Sự thành công của các cháu, như tôi đã nhìn thấy, thật đã làm vinh dự cho người đồng hương vì đã là những tấm gương sáng trên miền đất mới. Để bù lại tôi đã nói nhiều về sự cần thiết nối vòng tay lớn để xây dựng nên một cộng đồng Việt lớn mạnh ở hải ngoại vì các em đã bắt tay vào việc, đã bắt đầu tiếp nhận trách vụ lãnh đạo cộng đồng được chuyển từ ông cha tới thế hệ sau. Dù biết một số trong các cháu hiện diện có nhiều người sinh ra trên đất nước này, đã nói thông thạo Anh ngữ hơn là tiếng mẹ đẻ, nhưng tôi đã nói với các cháu bằng tiếng Việt mến yêu, và khi nhìn thấy trong hội trường những cặp mắt sáng ngời theo dõi từng chữ, từng câu tôi nói, tôi đã thực sự nhìn thấy tương lai sáng lạn của cộng đồng người Việt ở hải ngoại, và sau đây nếu các cháu làm tiếp sứ mạng còn dang giở của ông cha là tìm mọi cách để đưa lại dân chủ, tự do và phú cường cho quê hương xưa thì tôi cũng đã nhìn thấy một viễn tượng tốt đẹp cho hơn bẩy mươi triệu người còn sống trên giải đất Việt Nam. Nếu ai nhìn vào bất kỳ một sự phát triển nào trên giải đất Hoa Kỳ cũng phải công nhận rằng có sự đóng góp của người dân gốc Việt. Lãy một thí dụ là theo Bộ Thương Mại thì có hơn 300 người Mỹ gốc Việt đã có ít ra là 3 bằng sáng chế cho mỗi người. Riêng kỹ sư Đoàn Chính Trung, hiện nay là một trong những phó chủ tịch của Micron Corporation ở tỉnh Boise, tiểu bang Idaho, đã được cấp 132 bằng sáng chế. Người Việt Nam đặc biệt là xuất sắc trong những ngành kỹ thuật và khoa học bao gồm cả y, nha và dược học. Trong số hàng trăm trường y khoa ở khắp mọi nơi, nếu chỉ kể những trường thật nổi tiếng như ở những đại học Harvard, Yale, Johns Hopkins ở miền Đông và Michigan, Chicago, Northwestern ở miền Trung Tây . . . cho tới những trường ở miền Tây như Stanford và những đại học của California ở San Francisco, Los Angeles . . . thì ở nơi nào người ta cũng thấy những sinh viên Việt Nam mặc áo trắng chuyên cần theo học những lớp ở giảng đường hay theo thầy tập sự ở các bệnh viện và nhiều người đã tốt nghiệp ở khoảng đầu lớp khi ra trường. Theo một ước lượng thật dè dặt thì hiện nay ở Hoa Kỳ cứ mỗi một ngàn người chúng ta lại có 4 bác sĩ. Nói chung cho toàn thể đất nước thì tỷ lệ này chỉ có được ở những vùng thật trù phú. Nhiều bác sĩ, ở lớp đàn em và con cháu sau này, cũng đã trở thành giáo sư y khoa ở những đại học danh tiếng như những vị thầy tiền bối khi xưa. Một trong những người nổi tiếng là bác sĩ Nghiêm Đạo Đại, giáo sư tại trường đại học y khoa ở Pennsylvania và là người đã đưa ra một phẫu thuật tân kỳ khi ghép tụy tạng cho những người mắc bệnh tiểu đường loại I. Ông cũng đã đăng gần hai trăm bài khảo cứu trên những báo y khoa ở Bắc Mỹ. Trên một tờ báo y học ở miền Hoa Thịnh Đốn, hàng năm có đăng một danh sách các bác sĩ ưu hạng do chính các bạn đồng nghiệp chọn lựa. Đọc trên tập san ta có thể thấy trong bốn năm liền tên bác sĩ Trịnh Đức Phương trong bộ môn y khoa truyền nhiễm. Một ngươì em trai của bác sĩ cũng là giáo sư y khoa ở đại Học Johns Hopkins. Ở thành phố Long Beach thuộc tiểu bang California, khi tới thăm bệnh viện và phòng khảo cứu về chứng bệnh Parkinson của hệ thần kinh của bác sĩ Trương Dũng chúng ta có thể gặp nhiều bệnh nhân đã vì nghe tiếng ông mà từ nước ngoài tới xin chữa chạy. Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi chúng ta còn sống êm đềm ở nước nhà thì ngoại trừ ở thành phố Sàigòn là một nơi đô thị rộn rịp, còn ở các tỉnh khác từ Nam chí Bắc thì chiếc xe đạp hai bánh là phương tiện di chuyển thông thường của mọi người. Vậy mà giờ đây, thế hệ trẻ Việt Nam khi gia nhập quân đội Hoa Kỳ đã không ngần ngại chấp nhận những thử thách tập luyện tân kỳ như lái những phi cơ phản lực siêu thanh. Một bạn trẻ đã được Tổng Thống Hoa Kỳ W. J. Clinton nhắc đến trong một bài diễn văn quốc tế như là một tấm gương thành công đặc sắc của người Việt di cư là anh Trần Như Hoàng, người đã tốt nghiệp thủ khoa từ Trường Võ Bị Không Quân Hoa Kỳ ỏ Colorado Springs. Sau này, anh lại được học bổng Rhodes là một học bổng thật danh tiếng để đi tu nghiệp ở Anh Quốc trước khi trở về theo học và tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại đại học Harvard. Bây giờ anh là một bác sĩ không quân chuyên về giải phẫu vi ti, phục vụ ở San Antonio, Texas cùng với người vợ hiền cũng là một bác sĩ y khoa. Vào năm 1999, những ai coi tin tức truyền hình toàn quốc về lễ mãn khóa tại Trường Sĩ Quan Hải Quân Hoa Kỳ ở Annapolis đều được thấy một thiếu nữ Việt Nam là cô Nguyễn Thị Cẩm Vân đậu Á khoa ở một lớp có tới 737 sinh viên sĩ quan, cả nam lẫn nữ. Qua những buổi nói chuyện ở nhiều nơi, tôi đã gặp nhiều ngươì gốc Việt là những sĩ quan cao cấp trong quân đội, có người là bác sĩ đại tá quân y chỉ huy một hệ thống bệnh viện ở cả một vùng rộng lớn. Thế hệ trẻ hơn có người đã lên tới cấp bậc trung tá và cũng đã có nhiều người từng tham dự chiến cuộc Vùng Vịnh ở Trung Đông. Một trong những sĩ quan trẻ tôi đã gặp và hỏi chuyện là thiếu tá không quân Phạm Hoàng Thư, một huấn luyện viên trên phản lực cơ siêu thanh F-16. Cũng như tôi đã từng đào tạo nhiều kỹ sư chế tạo phi cơ, anh đã là người huấn luyện những phi công xử dụng và như thế cả hai thế hệ chúng tôi đều đã đóng góp hữu hiêïu vào sự phát triển của đất nước tạm dung này. Cộng đồng người Việt cũng đã có người đại diện trong hàng ngũ những phi hành gia không gian. Đó là tiến sĩ Trịnh Hữu Châu, tên Mỹ là Eugene H. Trinh , một nhà vật lý học lỗi lạc ở tuổi năm mươi, và là người đã được bay vào không gian bao la trên con thuyền con thoi vào đầu tháng bẩy năm 1995. Ở các hãng kỹ nghệ tư cũng có nhiều người đạt được những thành tích đặc sắc. Chúng ta có thể kể trường hợp của tiến sĩ Cai Văn Khiêm. Với nhiều bằng phát minh thực dụng, anh đã là kỹ sư trẻ nhất đạt tới điạ vị là Chief Division Technologist của Hugues Aircraft Company . Những thành công của người Việt không phải chỉ được biết đến trong giới hạn cộng đồng chúng ta mà thôi, mà tuy rằng còn thưa thớt, đôi khi cũng đã được giới thiệu đến đại chúng Hoa Kỳ qua những cơ quan truyền thông quốc gia. Ở Đại Học California ở San Diego, một chiếc máy do giáo sư Nguyễn Hữu Xương chế tạo đã được National Institutes of Health (NIH) công nhận là một nguồn khảo cứu quốc gia. Với sự tài trợ để duy trì và điều hành của NIH, chiếc máy mà các nhà khảo cứu sinh hóa học, phải ghi tên để đợi đến lượt được xử dụng, gọi là Xương Machine, đã giúp rất nhiều cho sự nghiên cứu các tế bào liên hệ đến ung thư. Ở Gia Nã Đại, bà Hoàng Thiếu Quân đã là người phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm làm Giám Đốc Tài Chánh cho Thành Phố Montréal, với ngân sách hàng năm lên tới ba tỷ Gia kim. Một tin tức nữa mà tôi đã được đọc trong một đặc san kỷ niệm lễ về hưu trí của giáo sư Lê Thành Trai của Đại Học Notre Dame ở South Bend, Indiana, là bà đã là phụ nữ đầu tiên được vào chính ngạch tại Trường Luật Khoa.

Trong suốt hai mươi năm, cho tới ngày giáo sư Trai nghỉ hưu vào năm 1997, bà đã là người độc nhất phụ trách dậy môn Luật Thương Mại, ngoài những phần chuyên môn khác, và như vậy tất cả các sinh viên luật tốt nghiệp trong khoảng thời gian đó đều đã thụ huấn bà. Trong ngành luật pháp, nhiều người gốc Việt, cả phái nam lẫn phái nữ, đã được bổ nhiệm vào chức vụ thẩm phán. Một vị chánh án trẻ tuổi là ông Thắng Nguyễn Barrett cũng đã tới Portland năm ngoái để làm diễn giả danh dự trong ngày Lễ Phát Thưởng của Hội Khuyến Học Việt Nam của Oregon. Nhưng người lỗi lạc nhất phải là tiến sĩ Đinh Phụng Việt, là giáo sư ở trường luật khoa danh tiếng của đại học Georgetown, và cách đây hơn một năm, khi mới ba mươi hai tuổi mà ông đã được Tổng Thống George W. Bush đề nghị với Quốc Hội Hoa Kỳ để được bổ nhiệm giữ chức vụ thứ trưởng Bộ Tư Pháp. Mới tuần lễ trước đây, vào ngày 18 tháng 9, năm 2002, độc giả tiếng Anh có thể đọc được trên nhật báo Los Angeles Times bài viết của ký giả Eric Lichtblau nhiệt liệt ca tụng ông Đinh Việt là người đã dựa vào hiếùn pháp Hoa Kỳ để viết tài liệu cho Bộ Tư Pháp có thể chứng quyết và cho phép những cơ quan công quyền được những quyền hạn rộng rãi để lưu giữ và thẩm vấn những người tình nghi làm lũng đoạn nền an ninh quốc gia. Trong bài báo, tác giả đưa ra ý kiến là ông Đinh Việt có thể là người gốc Á châu đầu tiên sau này có thể được đề nghị vào trong Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ. Chúng ta có thể nói là giờ đây nếu người Mỹ khi đi phi cơ, có bớt lo âu hơn về nạn không tặc, khủng bố, chính là nhờ ở những bảng phân tách hiến pháp của thứ trưởng Đinh Việt đã giúp cho cơ quan FBI quyền hạn rộng rãi hơn để khám phá những tồ chức khủng bố đang hoạt động trên nội địa Hoa Kỳ. Sau khi nhận xét những thành công của người Việt di dân trên đất nước này, chúng ta có thể tự hào mà nói rằng, cả hai thế hệ, những người Việt Nam đi tiên phong trong cuộc di cư sang nước người, và thế hệ thứ hai, con em của chúng ta, chúng ta đều đã có những đóng góp xứng đáng vào đất nước trú ngu. Câu hỏi thường hay được đặt ra, và nhiều khi để tìm ra câu trả lời, chúng ta vẫn thấy canh cánh bên lòng là:"sau khi đã ổn định được đời sống trên nước người, chúng ta cần làm gì và phải làm thế nào để giúp cho quê hương xưa?" * * * Từ thuở còn xanh mái đầu, tôi đã nặng tình dân tộc. Tuy nửa cuộc dời sống xa quê hương mà lúc nào tôi cũng thấy như gắn bó liền với đất nước. Cũng vì vậy mà ngày nào đất nước còn lầm than, chưa được thanh bình, tự do, thì lòng tôi vẫn chưa toại nguyện. Như toàn thể qúy vị, như mọi người quốc gia, tôi mong mỏi thế hệ mình có ngày được thấy đất nước thoát được ách cộng sản, quê hương mở hội, tiếng sáo diều lại nghe êm dịu trên thôn xóm như độ nào. Nhưng nếu mộng không thành thì ý nguyện quang phục quê hương phải được thế hệ trẻ tiếp nối. Khôùi người Việt ở hải ngoại, và đặc biệt là các bạn trẻ, đời thứ hai của chúng ta, hiện nay sống ở khắp mọi nơi trên mặt địa cầu, và là công dân của những nước cư ngụ. Nhưng các bạn vẫn có thể trung thành với xứ sở trú quán của mình và cùng một lúc làm được điều hữu ích cho quê hương của ông cha khi xưa bằng cách dùng mọi cách để tranh đấu cho sự thực hiện một nền dân chủ thực sự cho Việt Nam. Không riêng gì chúng ta, mà những nhà lãnh đạo và những người làm luật pháp ở những nước tự do và dân chủ trên thế giới cũng lưu tâm tới vấn đề này. Mới cách đây 12 ngày, vào những ngày 16 và 17 tháng 9, năm 2002, Hội Nghị của những nước Âu châu về Đông Nam Á sau khi họp tại Quốc Hội Âu châu ở Bruxelles, Bỉ Quốc, đã ra quyết định chung cuộc và trong đó đã nhận định rằng Việt Nam đi theo một hệ thống độc đảng và Đảng cộng sản đã kiểm soát tuyệt đối mọi phương diện chính trị, kinh tế, và cuộc sống của mọi người, đồng thời tước đoạt những quyền căn bản của người dân. Quốc Hội Âu châu cũng đã khuyến cáo chính phủ cộng sản Việt Nam phải thay đổi và đề nghị những chính phủ thành viên của họ dùng những biện pháp thích nghi để trừng phạt nếu lời khuyên không được đáp ứng. Từ thuở bình minh của nhân loại, dân tộc Việt đã hãnh diện góp mặt và kiên cường tồn tại với mọi dân tộc khắp năm châu. Ở tất cả mọi quốc gia, dù là Bắc hay Nam Mỹ, Âu châu hay Phi châu, ở Trung Đông hay Đông Á và Thái Bình Dương, dẫu mức độ dân chủ có khác nhau, quyền tự do cá nhân có khác biệt và nhịp độ phát triển kinh tế có không đồng đều, nhưng nói chung thì dân chủ pháp trị, tư do cá nhân và kinh tế thị trường là hướng đi chung mà nhân loại đã chọn từ hậu bán thế kỷ vừa qua và tiếp tục theo đuổi trong thiên niên kỷ mới. Vậy mà Đảng cộng sản Việt Nam đả chọn con đường ngược với hướng đi chung của thế giới, phản lại trào lưu tiến hoá của nhân loại. Cách đây nửa thế kỳ, thế hệ thanh niên chúng tôi, những người sinh vào những năm ba mươi và bốn mươi, và nay đã vào lứa tuổi sáu mươi và bẩy mươi, chúng tôi không có người hướng dẫn, và nhiều người đã bị cộng sản Việt Nam dùng chiêu bài "Kháng chiến chống Pháp dành Độc Lập" để làm lạc hướng đi. Giờ đây, bước vào một thiên niên kỷ mới, nhìn được những gương thành công của các nước cũng bị đô hộ như chúng ta, mà nay họ đã dành đuợc độc lập, phục hưng được nền kinh tế quốc gia, chúng ta phải tránh những lầm lỗi trước đây và quyết tâm khuyến khích các con em theo con đường chính nghĩa đưa lại dân chủ và thịnh vượng cho quê hương xưa. Riêng cá nhân tôi, vì là người dân gốc Việt, và luôn luôn mong cho quê hương xưa thoát khỏi cảnh tối tăm ngục tù dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, nên dù đã tới tuổi có thể tìm lấy thú thanh nhàn cho mình, tôi cũng không thể nào rũ sạch nợ tang bồng, và từ nửa năm qua, tôi đã cùng với một nhóm thân hữu cùng chung một ước nguyện, nghiên cứu những hiến pháp và thể chế của những nước có nền văn minh hiện đại, dân chúng được vui sống trong no ấm, và thấy rằng chỉ theo con đường dân chủ mới có thể đem lại thịnh vượng trong tương lai cho quốc gia Việt Nam, và hạnh phúc cho người dân Việt. Bốn người trong nhóm chúng tôi gồm có : 1. Cụ Phạm Ngọc Lũy, năm nay 83 tuổi , là thuyền trưởng thương thuyền Trường Xuân, và khi xẩy ra thảm nạn ngày 30, tháng Tư năm 1975, đã đưa 3,628 người Việt đến bến bờ tự do. Hiện nay cụ Lũy là cố vấn cho Mạng Lưới Nhân Quyền. 2. Ông Phan Quang Tuệ, năm nay 60 tuổi. Ông chính là con trai của bác sĩ Phan Quang Đán, một người suốt đời tranh đấu cho tự do, dân chủ cho Việt Nam. Trước năm 1975, ông Tuệ là sĩ quan Quân Pháp. Sang Hoa Kỳ ông từng là Phó Biện Lý ở tiểu bang Iowa, trước khi được bổ nhiệm làm Thẩm Phán Hành Chánh ở California và nay là Thẩm Phán Toà Di trú ở San Francisco. 3. Ông Ngô Đức Diễm, năm nay 60 tuổi, trước năm 1975 là giáo sư triết học. Là một nhà làm văn hóa đã có 4 tập thơ xuất bản, trong công việc phục vụ người đồng hương, ông là Giám Đốc cơ quan VIVO, giúp người tỵ nạn huấn nghệ và ổn định cuộc sống ở Bắc California. 4. Người thứ tư là tôi, Nguyễn Xuân Vinh, năm nay 72 tuổi, có 14 năm trong quân ngũ và hơn 30 năm trong ngành giáo dục. Sau nhiều tháng làm việc, tham khảo rộng rãi với nhiều nhân sĩ ở khắp mọi nơi, trong và ngoài nước, chúng tôi đã soạn được một bản văn đề là Tuyên Ngôn Dân Chủ Việt Nam 2002 Đây là một đề nghị tương lai dân chủ cho đất nước, chọn những nguyên tắc sau đây làm căn bản cho việc tổ chức và điều hành chính sự trong nước: - Một chế độ pháp trị trong đó các quyền tự do cá nhân của người dân đều được luật pháp công nhận và bảo vệ. - Một thể chế chính trị dân chủ đa nguyên trong đó người dân thực sự làm chủ vận mệnh của đất nước. - Một nền kinh tế thị trường đặt căn bản trên quyền tư hữu với tự do cạnh tranh và mậu dịch. Chúng tôi đã tổ chức một "Ngày Dân Chủ Cho Việt Nam" vào ngày 20 tháng 10, năm 2002 ở San Jose với sự tham dự của nhiều người cùng chung chí hướng ở khắp mọi nơi và đã đóng góp ý kiến vào Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ để thảøo luận và hoàn chỉnh bản văn trước khi công bố trong một buổi lễ long trọng kết thúc Ngày Dân Chủ. Bản tuyên ngôn này rồi đây sẽ được gửi đi khắp nơi bằng mọi phương tiện truyền tin. Chúng tôi hy vọng rằng, trong tương lai, lý tưởng dân chủ sẽ là mục tiêu tranh đâùu chung, sẽ là bó đuốc soi đường của những người Việt cùng mong muốn cho đất nước Việt Nam được hưng thịnh, dân chúng được tự do, no ấm, sống trong khung cảnh thanh bình. Chúng ta đã được chứng kiến sự sập đổ của bức tường Bá Linh. Chúng ta đã nhìn thấy Liên Sô dần dần tan rã và sự tách rời để trở thành độc lập của các nước thuộc khối Đông Âu. Vì vậy chúng ta cũng có thể đoan chắc về sự tan hàng của cộng sản Việt Nam trong những năm tới. Chúng ta không muốn bị bối rối khi sự việc bất thần xẩy ra để phải tự hỏi rằng: "Sau cộng sản thì Việt Nam ra sao?". Câu trả lời tất nhiên, và đã sẵn sàng là: "Việt Nam sẽ thành một nước Dân Chủ, đưa lại hạnh phúc và ấm no cho toàn dân".

-- Nguyen-Viet-Nam (tosu_cs@yahoo.com), December 05, 2003.

-- Con Ho Dam Tac - Nong Duc Manh (Con_Ho_Dam_Tac@hn.vnn.vn), December 07, 2003.



xin chao tat ca moi nguoi toi thay hinh nhu tat ca chung ta o day deu rat du hoi ,du suc de lam ba cai chuyen nham nhi cac ban ai cung vo nguc xung ten la yeu dat nuoc,yeu dan toc viet nam nhung thu hoi cac ban da lam gi duoc cho dat muoc nay nhi,dem khoa hoc ki thuat the gioi ve xay dung dat nuoc chua?,dung tai nang,suc luc ,tuoi tre cua ban cong hien cho dat nuoc chua?.Hay nhin nhung van dong vien Viet Nam trong Seagame 22 vua roi day xin loi cac ban,thu han khong giup cho chung ta phat trien va di len dau,hay bo di nhung suy nghi day quan phiet do di quan trong chung ta bay gio khong phai la noi ma la lam,phay xay dung nhieu hon la dap do,vi xay dung va yeu thuong de dang hon la dap do va han thu chung ta deu la nguoi viet nam,hay bao boc nhau ,vi chung ta deu la nhung nguoi yeu nuoc,viet nam hom nay con ngheo va te lam,hay no luc hon de giup do nhau tien len ,giup do nhau la giup cho viet nam phat trien.ban da la mot nguoi yeu nuoc roi do cam on rat nhieu da lang nghe minh noi

-- nguoi binh thuong (khatvong007@yahoo.com), December 31, 2003.

Moderation questions? read the FAQ